Ảnh Bí ẩn thế giới

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí ẩn thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí ẩn thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
(sangkhoaivn.com) Bao đời nay, bí ẩn về những ngọn đèn ngàn năm không tắt được tìm thấy trong những ngôi đền, mộ cổ tại nhiều quốc gia vẫn là ẩn số khó giải với toàn nhân loại.
Dân đào trộm mộ xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Chúng dùng “trăm phương ngàn kế” để đột nhập vào mộ cổ và trộm cắp vàng bạc châu báu đã được chôn giấu suốt hàng ngàn năm.

Những ngôi mộ cổ luôn cách biệt với thế giới bên ngoài, vì vậy, dù trải qua nhiều thế kỷ, những báu vật ấy vẫn được bảo quản khá tốt.

Lũ trộm thường cho rằng, ở nơi quanh năm không thấy ánh mặt trời ấy thường rất tối tăm, giơ tay trước mặt cũng chẳng thể trông rõ năm ngón ngắn dài. Nhưng thực tế không hoàn toàn như những gì chúng nghĩ.

Theo một số ghi chép còn lại tới ngày nay, bên trên vòm của một số ngôi mộ cổ xuất hiện những ngọn đèn rọi ánh sáng mờ ảo xuống lòng mộ. Chính điều ấy đã khiến đám trộm mộ nhiều phen ngỡ ngàng, kinh ngạc.
 Những ngọn đèn trong các ngôi mộ cổ có thể cháy cả ngàn năm (Ảnh minh họa)
Vào năm 527, Syria nằm dưới sự thống trị của đế quốc Đông La Mã. Các binh sĩ Đông La Mã đồn trú tại lãnh thổ Syria lúc đó đã phát hiện ra trong một hốc tường nọ tồn tại một ngọn đèn, bên ngoài được che bằng chiếc chụp rất tinh xảo.

Chiếc chụp này dường như được thiết kế để chắn gió. Theo văn khắc được phát hiện vào thời điểm ấy, ngọn đèn đã được thắp từ năm 27, đồng nghĩa với việc, nó đã bền bỉ "sống" suốt 500 năm! Nhưng thật đáng tiếc vì đám binh sĩ đã làm hỏng ngọn đèn, khiến hậu thế không thể lý giải nguyên lý hoạt động kỳ diệu của nó.

Một nhà sử học Hy Lạp cũng đã ghi chép về ngọn đèn thần luôn thắp sáng trên cửa đền thờ thần mặt trời tại Ai Cập. Ngọn đèn này không dùng bất cứ nhiên liệu gì nhưng vẫn chiếu sáng trong vài thế kỷ.

Theo miêu tả của nhà thần học người La Mã Saint Augustin, tại ngôi đền Isis của Ai Cập cũng có một ngọn đèn tương tự, thắp sáng vĩnh cửu bất chấp tác động của mưa gió.

Vào năm 1400, người ta lại phát hiện bên trong mộ phần của Pallas - con trai vua Evandra thời La Mã cổ đại tồn tại một ngọn đèn cháy sáng trong hơn 2.000 năm. Gió và nước không thể dập tắt ánh sáng vĩnh cửu của nó. Có lẽ, cách duy nhất để phá hủy ngọn đèn chính là trút sạch thứ chất lỏng đặc biệt có trong nó.

Tới năm 1534, đội quân của vua Henry VIII xông vào giáo đường Anh, giải tán các đoàn thể tôn giáo và khai quật rất nhiều ngôi mộ. Khi đào bới mộ phần của cha hoàng đế La Mã Constantin tại Yorkshire, họ phát hiện ra một ngọn đèn đang cháy sáng. Cha của vị vua này mất vào năm 300, cũng có nghĩa, ngọn đèn được tìm thấy đã có "tuổi thọ" rất cao, tức 1.200 năm tuổi.

Đó chỉ là một vài trong số rất nhiều những ngọn đèn ngàn năm không tắt được phát hiện. Các ghi chép cho thấy, khắp các nơi trên thế giới đều có hiện tượng kỳ bí này, điển hình là tại những quốc gia, khu vực có các nền văn minh cổ xưa như Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập... Ngay cả Italy, Anh, Ireland và Pháp cũng tồn tại những ngọn đèn bí ẩn tương tự.

Chúng được tìm thấy trong cổ mộ và các đền thờ trên khắp thế giới. Điều đó cho thấy, ngọn đèn ngàn năm không tắt là “sản phẩm” sáng tạo tuyệt vời của người dân ở nhiều quốc gia, khu vực, chứ không riêng gì những mảnh đất vốn được mệnh danh là huyền bí như La Mã, Ai Cập...

Vì sao những ngọn đèn bí ẩn ấy không được bảo quản và gìn giữ cho tới ngày nay? Phải chăng người xưa chưa đủ quan tâm tới những phát hiện "để đời" của mình? 

Theo các ghi chép, trên thực tế, người cổ đại đã bảo quản những ngọn đèn này, nhưng lạ lùng thay, ít lâu sau khi được tìm ra, chúng nhanh chóng bị phá hủy bởi cách này hoặc cách khác.

Vào giữa thế kỷ 17, tại vùng Grenoble của Pháp, một người lính Thụy Sĩ đã tình cờ phát hiện lối vào một ngôi mộ cổ. Sau khi dùng hết sức bình sinh để vào được bên trong, chàng trai trẻ đã không tìm được những thứ vàng bạc châu báu mà anh ta thèm muốn.

Nhưng điều khiến người lính Thụy Sĩ kinh ngạc là trong ngôi mộ cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài ấy tồn tại một ngọn đèn đang cháy sáng và được bảo vệ bởi một chụp đèn bằng thủy tinh. Anh ta đã đem tặng cây đèn cho tu viện.

Các tu sĩ tại đây cũng ngạc nhiên chẳng kém khi đón nhận nó. Ít nhất ngọn đèn bí ẩn ấy đã cháy sáng suốt cả ngàn năm. Họ gìn giữ, bảo quản nó như gìn giữ một báu vật. Đáng tiếc thay, vài tháng sau đó, một vị tu sĩ vì không cẩn thận đã làm vỡ cây đèn.

Lại có câu chuyện thú vị khác được cho là đã xảy ra tại Anh. Sau khi một ngôi mộ đầy bí ẩn được khai quật, người ta phát hiện ra rằng, trên nóc mộ có treo một ngọn đèn soi sáng cả không gian.

Khi người khai quật tiến về phía trước, một phần nền bỗng dưng rung lắc theo bước chân anh ta rồi đột nhiên, bức tượng mặc áo giáp bắt đầu di chuyển. Pho tượng di chuyển tới gần chỗ ngọn đèn và dùng vũ khí trong tay đập vỡ nó.

Tại Trung Quốc cũng có những ghi chép về hiện tượng này. Sử ký chép rằng, trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng có bố trí loại đèn thắp sáng cực "dai sức".

Người Trung Quốc vốn có truyền thống đối đãi với người chết như người sống. Các bậc đế vương rất coi trọng lăng mộ của mình. Họ xem đó là nơi cư trú của linh hồn khi đã “nhắm mắt xuôi tay” và hy vọng lăng mộ sẽ được trang hoàng bởi những ngọn đèn cháy sáng bền bỉ giống như những gì đã có trong chốn hoàng cung.

Một ngọn đèn như vậy thường có kết cấu hai tầng, khoang chứa bên trong đổ đầy dầu thắp, bấc đèn được ngâm trong dấm, tầng ngoài chứa nước, có tác dụng làm mát dầu.

Đây là một phát minh vĩ đại, bởi lượng dầu thắp tiêu hao nhanh không phải vì bị đốt cháy nhiều, mà chủ yếu là do gặp nhiệt và bay hơi. Ngoài ra, bấc đèn được ngâm trong giấm cũng có thể duy trì mức nhiệt thấp, nước bao bên ngoài giúp dầu không tăng nhiệt.

Trong quá trình khai quật di tích Định Lăng thuộc Bắc Kinh, người ta cũng phát hiện thấy trong chính điện của lăng mộ này có một chiếc vại lớn bằng sứ men xanh đựng đầy dầu thắp và một chiếc bấc đèn.

Nhưng ít lâu sau khi lăng mộ được bịt kín, ngọn đèn này đã tắt lụi, bởi lăng mộ quá kín mít làm thiếu đi lượng không khí cần thiết để duy trì ngọn lửa của đèn…

Sau nhiều năm, bí ẩn về những ngọn đèn không tắt chưa hề được giải mã. Hậu thế vẫn miệt mài tìm kiếm lời giải cho những câu hỏi hãy còn bỏ ngỏ: “Liệu những ngọn đèn kia có phải là minh chứng rõ rệt cho trình độ khoa học kỹ thuật cực cao của người xưa?” và “Tổ tiên chúng ta đã phát minh ra chúng như thế nào?”...

Một vấn đề khác cũng được giới chuyên môn hết sức quan tâm, đó là, phải chăng người cổ đại đã rất thành thạo trong kỹ thuật chế tạo ra những ngọn đèn ngàn năm không tắt? Sự thực không hẳn là vậy, bởi mộ của dân thường thời đó không có thứ này, ngoại trừ mộ thất của những nhà giả kim, cho dù họ không thuộc tầng lớp giàu sang phú quý trong xã hội.

Vào năm 1610, người ta đã khai quật ngôi mộ của một nhà giả kim có tên là Los Cruz sau khi ông này qua đời được 120 năm. Trong mộ cũng có một ngọn đèn kỳ bí như vậy. Do đó, người ta ngờ rằng, chính những nhà giả kim và thợ đúc kim loại thời xưa là những người nắm rõ kỹ thuật chế tạo loại đèn ngàn năm không tắt này. Lẽ nào thứ ánh sáng huyền bí và "sống" cực bền bỉ ấy thực sự có mối tương liên với kim loại? 

Một số người cho rằng, những ghi chép của các nước đủ để khẳng định sự tồn tại của những ngọn đèn ngàn năm không tắt, hoặc chí ít cũng là ngọn đèn có thời gian thắp sáng rất dài. Chỉ có điều, công nghệ để tạo nên chúng giờ đã thất truyền, khiến con người của xã hội hiện đại không thể lý giải về chúng.

Một quan điểm khác lại cho rằng, tuy có nhiều ghi chép, nhưng trên thực tế, con người chưa tận mắt trông thấy ngọn đèn kỳ lạ này. Thêm nữa, năng lượng để đèn thắp sáng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm cũng trái ngược hoàn toàn với Định luật bảo toàn năng lượng được nhân loại công nhận.

Vì vậy, những ngọn đèn vĩnh cửu thực chất chỉ là sản phẩm thêu dệt, tưởng tượng của con người chứ không hề có thật. Lại thêm ý kiến rằng, có lẽ đây chỉ là kiểu đùa thông minh của người cổ đại...
(sangkhoaivn.com) Thường ẩn mình ở những nơi sâu nhất trong lòng đại dương nhưng sau khi chết, xác nhiều thủy quái dạt vào bờ, gây xôn xao dư luận.

10. Quái vật biển Tasmania được phát hiện hồi tháng 8/1960

Thủy quái Tasmania trở thành đề tài bàn tán của dư luận ngay sau khi được phát hiện
Còn gọi là "Tasmania Blob", thủy quái này dạt vào bờ biển Tasmania năm 1960. Khi được phát hiện, sinh vật bí ẩn đã chết. Nó khuyết mắt nhưng có miệng, trên mình bao phủ lớp lông cứng màu trắng và đặc biệt to lớn với độ dài 6m. Giới truyền thông vớ được tin sốt dẻo, thả sức thêu dệt nên những câu chuyện ly kỳ về quái vật biển Tasmania.
Khi đó, giới khoa học cũng không thể xác định được cấu trúc xương của con vật nên họ cho rằng, đây có thể là một loài động vật có vú mới. Bức màn bí ẩn bao phủ thủy quái Tasmania 21 năm sau, tức là năm 1981 mới được giải đáp.
Với sự hỗ trợ của khoa học kỹ tiên tiến, các nhà khoa học phân tích cấu trúc xương của thủy quái và kết luận, đây là một chú cá voi.

9. Thủy quái Bermuda được phát hiện vào tháng 5/1988

Thủy quái nổi tiếng Bermuda hóa ra là xác một chú cá heo bị bệnh
Vào đầu năm 1988, một ngư dân tên là Ted Tucker tình cờ bắt gặp xác một sinh vật bí ẩn trên bờ biển Bermuda. Sinh vật này được miêu tả là trắng toát với 5 chi. Cũng như nhiều thủy quái nổi tiếng khác, Bermuda không có mắt, miệng hay bất cứ đặc điểm cụ thể nào để nhận dạng.
Do đó, thủy quái Bermuda là một ẩn số cho tới 7 năm sau đó. Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thủy quái Bermuda chính thức được xác nhận là xác một chú cá heo bị bệnh.

8. Thủy quái Gambo được phát hiện vào tháng 6/1983

Thủy quái Gambo vẫn là bí ẩn đối với các nhà sinh vật học
Thủy quái được phát hiện bởi cậu bé Owen Burnham, 15 tuổi trên bờ biển Bungalow tại Gambia. Sự kiện này làm xôn xao dư luận khi chưa một ai từng trông thấy một sinh vật nào tương tự Gambo. Tên của thủy quái được đặt theo tên của nơi nó được phát hiện.
Cho đến nay, bí ẩn xung quanh thủy quái Gambo vẫn chưa có lời giải. Lý do là, ngay sau khi bị phát hiện, quái vật biển được chuyển tới một ngôi làng gần đó và bị xẻ thịt. Thậm chí, dân làng còn cắt đầu con thủy quái và bán cho một khách du lịch. Không có bất cứ tấm ảnh nào ngoài bản phác thảo vội của cậu bé Owen về Gambo. Do đó, cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không biết chắc về lai lịch của con thủy quái này.

7. Thủy quái Augustine được phát hiện vào tháng 11/1896

Là một trong những thủy quái nổi tiếng và được phát hiện sớm
nhất, sinh vật biển Augustine do một nhóm trẻ con phát hiện
Thủy quái Augustine làm xôn xao dư luận khi ban đầu người ta cho rằng, nó là một loài mực ống khổng lồ mới bởi có nước da màu hồng xỉn, đặc trưng của loài này. Giả thuyết này tồn tại tới tận 29 năm sau đó.
Tuy nhiên, vào năm 1925, khi loài mực ống khổng lồ thực sự được phát hiện và được công nhận là một loài mới, người ta mới ngộ ra, thủy quái Augustine là một loài khác.
Sở dĩ có sự nhầm lẫn này là vì thủy quái Augustine không chỉ có màu da giống loài mực ống mà còn có các xúc tu. Tổng cộng, Augustine có tới 7 xúc tu dài loằng ngoằng nhưng cân xứng với cơ thể khổng lồ của nó. Tuy nhiên, một vài xúc tu bị đứt và trôi dạt, nằm rải rác trên bờ biển. Trong khi đó, đầu của thủy quái trông giống một con sư tử biển.
Ngày nay, với các tiến bộ khoa học, người ta xác nhận được thủy quái Augustine là xác của một con cá voi bị bệnh.

6. Quái vật Montauk được phát hiện vào tháng 7/2008

Xác thủy quái Montauk trên bãi biển New York
Thủy quái Montauk được phát hiện tại một bãi biển ở bang New York. Sinh vật này có đầu giống đầu chim nhưng hàm dưới lại có răng. Trong khi đó, thân của Montauk giống loài chó nhưng lại hoàn toàn không có lấy một sợi lông nào.
Từ khi được phát hiện cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa giải được bí ẩn về nguồn gốc của Montauk. Một số người cho rằng, Montauk là một con gấu trúc bị mắc bệnh. Điều này giải thích cho việc nó bị rụng lông và mất toàn bộ hàm trên. Tuy nhiên, giả thiết này bị nhiều người phản đối vì cho rằng, chân gấu trúc ngắn hơn rất nhiều so với chân của quái vật Montauk.

5. Thủy quái ở Newfoundland được phát hiện vào tháng 8/2001

Thủy quái được phát hiện trên bãi biển Newfoundland
Cũng làm xôn xao dư luận khi được phát hiện, nhưng lai lịch thủy quái ở Newfoundland lại nhanh chóng được xác định nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật.Thủy quái được xác định là một con cá nhà táng khổng lồ, thuộc loài cá voi to lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, các nhà khoa học cũng lý giải về việc làm thế nào mà cái xác to lớn, nặng nề của con cá nhà táng khổng lồ lại có thể trôi dạt được vào bờ. Họ nói rằng, sau khi cá chết nhiều năm, quá trình thối rửa làm cho phần xương cứng bên trong cơ thể cá nhà táng phân hủy và thấm qua lớp mỡ chảy hết ra ngoài. Các cơ quan nội tạng bên trong cũng bị phân hủy hoàn toàn, để lại các xác rỗng toàn mỡ. Điều này khiến các xác cá có khả năng nổi trên mặt biển và cuối cùng bị sóng đánh trôi dạt vào một bãi biển ở Newfoundland.

4. Thủy quái ở Chile được phát hiện vào tháng 7/2003

Cho đến nay, lai lịch của thủy quái ở Chile vẫn là một bí ẩn đối với các nhà sinh vật học
Thủy quái ở Chile có chiều dài tới 12m, nặng 13 tấn. Ban đầu, nhiều nhà sinh vật học xác định đây là một loài bạch tuộc khổng lồ chưa từng được biết đến từ trước tới nay. Điều này khiến dư luận cả thế giới xôn xao.
Tuy nhiên, sau đó thủy quái được xác định lại là một con cá voi. Tuy nhiên, một số nhà sinh vật học khác vẫn chưa hoàn toàn bị thuyết phục với kết luận trên bởi lúc đầu, thủy quái được suy đoán là loài không xương sống.

3. Thủy quái Zuiyo-maru được phát hiện vào tháng 4/1977

Xác con thủy quái khổng lồ bị vứt trả lại biển
Trong một chuyến đi biển, một đoàn ngư dân Nhật Bản phát hiện ra xác của một sinh vật biển khổng lồ sau khi nó mắc vào lưới vét cá của họ. Sinh vật lạ được đặt tên là Zuiyo-maru, theo tên của chiếc tàu đánh cá. Các thủy thủ cho rằng, Zuiyo-maru là một con thằn lằn cổ dài tiền sử được gọi là “Nessie”.
Mặc dù rất phấn khích nhưng các ngư dân đành vứt trả lại cho biển xác con thủy quái bởi lo sợ việc giữ lại Zuiyo-maru sẽ khiến số cá họ bắt được trên thuyền thối rữa. Trước khi vứt xác con vật, họ khôn ngoan chụp ảnh nó đồng thời giữ lại các mẫu xương, thịt, da và mỡ của con vật.
Tuy nhiên, tất cả những điều đó cũng không thể giúp các nhà sinh vật học xác định chính xác lai lịch của Zuiyo-maru. Một số giả thiết cho rằng, đây là xác của một con cá mập khổng lồ .

2. Thủy quái Trunko được phát hiện vào tháng 10/1924

Một người đàn ông đang dùng cành cây chọc vào xác thủy quái Trunko trên bãi biển Nam Phi.
Trunko là thủy quái duy nhất còn sống khi được phát hiện. Theo lời các nhân chứng, vài ngày trước khi bị dạt vào một bờ biển Nam Phi, thủy quái Trunko đang vật lộn tìm cách thoát thân khỏi 2 con cá hổ kình khổng lồ (cá voi sát thủ). Nó phải dùng đuôi chống lại kẻ thù trong suốt 3 giờ.
Ngoài ra, các nhân chứng cũng cho hay, diện mạo của Trunko rất kỳ lạ. Nó có bộ lông màu trắng như tuyết bao phủ phần thân trên (một số người vì điều này cho rằng nó là một con gấu Bắc cực). Ngoài ra, con thủy quái có đuôi giống loài giáp xác nhưng bị mất đầu, không có cấu trúc xương và thậm chí, không có máu.
Với điều kiện khoa học kỹ thuật thời đó, rất khó để xác định lai lịch của Trunko. Hiện nay, chỉ còn lại 4 bức ảnh chụp thủy quái này và do đó, nó vẫn là bí ẩn với các nhà sinh vật học.

1. Thủy quái Stronsay được phát hiện vào tháng 9/1808

Hình vẽ thủy quái Stronsay
Năm 1808, sau khi cơn bão đổ bộ lên đảo Stronsay thuộc quần đảo Orkney tan, một sinh vật khổng lồ dài ngoằn ngoèo dạt vào bờ.
Hơn 200 năm kể từ khi được phát hiện, lai lịch của sinh vật này vẫn là bí ẩn đối với các nhà khoa học.
Về diện mạo, Stronsay có nhiều điểm tương đồng với quái vật hồ Loch Ness với đuôi và cổ rất mảnh và dài, phần thân rộng với 3 cặp chân ngắn. Con quái vật có bờm bao gồm những chiếc lông cứng và nhọn phủ từ cổ cho tới phần lưng dưới.
Stronsay có chiều dài gần 17m dù khi được phát hiện, một phần đuôi của nó đã bị phân hủy. Khi ấy, với chiều dài như vậy, nhiều người cho rằng, Stronsay là xác của loài con cá mập khổng lồ. Trước đó, con cá mập dài nhất từng được biết đến chỉ dài 12m. Trong suốt một khoảng thời gian dài, các chuyên gia xã hội lịch sử tự nhiên ở thành phố Edinburgh, Vương quốc Anh tìm mọi cách để xác định lai lịch của Stronsay nhưng bất thành.
(sangkhoaivn.com) Mới đây một thanh niên 19 tuổi người Texas, Lyle Bensley, bị cáo buộc đã đột nhập vào căn hộ của một phụ nữ sau đó cắn vào cổ của người này. Tuy nhiên người phụ nữ đã trốn thoát và báo cảnh sát sau đó Lyle Bensley bị bắt vì tội hành hung.
Lyle Bensley tuyên bố anh ta là một con ma cà rồng thế kỷ và cần máu tươi để sống.
Con người ngày càng quan tâm đến sự tồn tại của ma cà rồng và tự hỏi liệu sinh vật này có thật sự tồn tại và việc hút máu tươi như vậy có an toàn? Câu trả lời là với một lượng máu nhỏ (khoảng vài thìa cà phê), và không mang các bệnh truyền nhiễm thì máu có thể không làm hại đến sức khỏe con người.
Sự tồn tại của Ma cà rồng ngày càng thu hút sự quan tâm của con người.
Tuy nhiên một thực tế là uống máu rất độc. Do máu giàu chất sắt trong khi việc bài tiết sắt đối với cơ thể con người rất khó khăn do đó sẽ dẫn đến nguy cơ thừa sắt. Khi sắt ở liều cao sẽ trở thành chất độc và là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh như tổn thương gan, tích tụ nước trong phổi, mất nước, huyết áp thấp và các rối loạn thần kinh.
"Đối với một số động vật hút máu như rơi ma cà rồng chúng có thể đào thải lượng sắt thừa nhờ vào cơ chế tiêu hóa đặc biệt trong khi con người không có khả năng này vì vậy việc uống máu của con người sẽ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe" Katherine Ramsland tác giả cuốn sách "Khoa học Ma cà rồng" cho biết.
Mặc dù máu rất cần thiết cho sự sống như trái tim, mạch máu...nhưng uống máu lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Và đương nhiên uống càng nhiều máu, chất độc trong đó sẽ gây tổn hại càng lớn cho sức khỏe.

(sangkhoaivn.com) Mới đây, trang Live.com đưa tin mẹ của Venus Stewart, một phụ nữ mất tích bí ẩn từ tháng 4/2010 và được cho là đã bị người chồng sát hại, sẽ xuất hiện trong show đối thoại trên truyền hình “Dr. Phil”.
Trong chương trình lên sóng vào tháng 11 tới, nhà ngoại cảm nổi tiếng John Edward sẽ cố gắng liên lạc với linh hồn của Stewart để có thể làm rõ thông tin về vị trí chôn giấu thi thể cô. “Tôi đã thực sự tuyệt vọng và mất hết niềm tin vào việc tìm kiếm Stewart”, người mẹ đau khổ Therese McComb nói.
Nếu Edward có thể dẫn cảnh sát và gia đình McComb đến nơi tìm được Venus Stewart, dù sống hay chết, thì đây sẽ là một trong những lần vô cùng hiếm hoi (nếu không muốn nói là đầu tiên) điều kỳ diệu đó xảy ra. Trước đây, thay vì dẫn cảnh sát đến chỗ người mất tích, các nhà tâm linh thường chỉ cung cấp những thông tin và cảm giác hết sức mơ hồ, đầy mâu thuẫn, nhìn chung là không mang lại kết quả gì.
Gần đây nhất, Harsha Maddula, sinh viên trường Đại học Northwestern đến từ Long Island New York, Mỹ bỗng nhiên mất tích từ ngày 22/9, lần cuối cùng người ta nhìn thấy Maddula là tại một buổi tiệc bên ngoài khuôn viên trường ở Illinois. Trong khi phía cảnh sát đang rơi vào bế tắc thì những lời trấn an của nhiều nhà tâm linh đã làm yên lòng người thân Maddula. “Anh ấy còn sống và vẫn bình thường. Đừng quá lo lắng”, họ nói.
Gia đình có người mất tích thường tìm đến các nhà ngoại cảm khi họ
không còn tin vào khả năng của phía cảnh sát. 
Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau, xác Maddula đã được tìm thấy dưới nước, trong tình trạng mắc kẹt giữa 2 con tàu ở Wilmette Harbor, khu vực gần ký túc xá của trường. Khám nghiệm tử thi cho biết Maddula đã chết cách đó gần một tuần. Không có bất kỳ dấu hiệu nào về một cuộc ẩu đả, cướp bóc, hành hung hay bị đầu độc. Cảnh sát tin rằng đây là vụ tai nạn chết đuối thông thường.
Đó chỉ là trường hợp mới nhất trong số rất nhiều (thậm chí là hầu hết) vụ mất tích tương tự mà các nhà ngoại cảm đã dự đoán sai. Mặc dù liên tiếp thất bại nhưng số người đến gặp họ với mong muốn xác định vị trí người mất tích không hề suy giảm, ngay cả khi người ta không tin vào tâm linh.
Một ví dụ điển hình khác, những khán giả trung thành của chương trình tâm linh được nhiều người yêu thích trên sóng TV show chắc hẳn vẫn chưa quên sự xuất hiện của nhà ngoại cảm nổi tiếng Sylvia Browne trong chương trình “The Montel Williams Show”. Browne khẳng định với cha mẹ của đứa trẻ mất tích Shawn Hornbeck rằng con trai họ đã bị bắt cóc và bị giết chết bởi một người đàn ông da sẫm màu rất cao và họ có thể tìm thi thể bé gần hai tảng đá lớn trong một khu rừng. Vậy nhưng trên thực tế, Browne đã sai. Hornbeck cùng cậu bé khác đã được phát hiện vào ngày 16/1/2007 trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh ở ngôi nhà của kẻ bắt cóc Michael Devlin, một người đàn ông da trắng. Câu chuyện này về sau không còn được nhắc lại vì bố mẹ Shawn Hornbeck quá vui mừng khi con của họ còn sống.
Trong nhiều vụ, cùng một người mất tích, hàng trăm nhà tâm linh khác nhau lại đưa ra hàng trăm ý kiến ​​khác nhau và đáng buồn là tất cả đều không phải thông tin chính xác. Người mẹ đau khổ McComb ở trên cho biết bà hiểu điều này, tuy nhiên đây là hành động thường thấy ở những người mẹ tuyệt vọng như bà, những người không còn nơi nào khác để bấu víu, để hy vọng.
Tuy nhiên, theo các nhà ngoại cảm chân chính, cho dù không thể tìm ra manh mối nào thì gia đình các nạn nhân cũng cần phải được biết sự thật thay vì gieo vào suy nghĩ của họ những thông tin sai lệch và hy vọng giả tạo.
(sangkhoaivn.com) Một nhóm các nhà khoa học Úc tin rằng họ đã tìm ra nguyên nhân của một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của tự nhiên - sét hòn (ball lightning).
Sét hòn, thường có kích thước bằng một quả bưởi, là một hiện tượng vật lý hiếm thấy xuất hiện khoảng 20 giây. John Lowke, nhà khoa học thuộc Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang Úc (CSIRO), tác giả chính của nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Geophysical Research Atmospheres nói: “Suốt thời gian dài, hiện tượng này không được thừa nhận. Tuy nhiên, cho đến nay, có hàng trăm trường hợp tuyên bố họ đã chứng kiến sự xuất hiện của sét hòn và cũng hàng trăm năm nay nó vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải thích thoả đáng”.
Nhiều giả thuyết trước đây cho rằng bức xạ sóng ngắn, trạng thái oxy hóa, năng lượng hạt nhân, vật chất tối, phản vật chất thậm chí ngay cả lỗ đen đều có thể là nguyên nhân.
Sét hòn thường vào nhà qua ống khói, qua cửa kính và cũng có thể trong một cấu trúc toàn kim loại như khoang máy bay. Để làm sáng tỏ bí ẩn, Lowke và các đồng nghiệp tại CSIRO và Đại học Quốc gia Úc đặc biệt quan tâm đến sự xuất hiện của nó gần cửa sổ mà không làm vỡ kính.
Giống như một quả cầu plasma, sét hòn là khí
phát sáng được hình thành bởi một điện trường.
Sau khi chạm xuống đất, sét hòn để lại đằng sau dấu vết của các hạt tích điện hoặc ion. Ở hầu hết mọi trường hợp, ion âm và dương kết hợp trong giây lát, các ion còn lại thì rơi xuống mặt đất. Giả thuyết mà Lowke đưa ra là một số ion này có thể tích tụ ở bên ngoài bề mặt vật liệu không dẫn điện như cửa sổ. Chúng tập trung lại và tạo ra một trường điện xuyên qua kính.
Lowke nói rằng trường này sinh ra các electron tự do phía trong cửa sổ mang năng lượng đủ để đánh bật các electron từ phân tử khí xung quanh, đồng thời giải phóng photon, tạo ra quả cầu phát sáng. “Khoảng 1/3 số trường hợp sét hòn xuất hiện kèm theo một tiếng nổ lớn. Nó có thể là điện trường có xu hướng làm nóng khí, gây ra vụ nổ bởi sự giãn nở khí”.
Tuy nhiên, tại sao ở một vài trường hợp khác, như lời kể của cựu phi công trong lực lượng Không quân Hoa Kỳ sau đây, sự hình thành sét hòn lại không theo công thức đó.
Trong khi điều khiển chiếc máy bay chở hàng C-133A từ California đến Hawaii giữa những năm 1960, Lietutenant Don Smith đã nhìn thấy ngọn lửa Saint Elmo trên màn hình radar của máy bay, ngay sau đó sét hòn xuất hiện trong buồng lái, phát ra thứ ánh sáng màu xanh.
Trên thực tế, lửa St. Elmo là sự phóng điện từ một vật dẫn có đầu nhọn khiến cho mật độ điện tích tăng cao, tạo ra điện trường mạnh dẫn tới sự phóng điện. Lửa St. Elmo cũng có dạng cầu nhưng không giống sét hòn, nó vẫn tiếp xúc với vật dẫn và tồn tại trong khoảng thời gian lâu hơn sét hòn rất nhiều.
“Sự hình thành đồng thời của cả lửa Saint Elmo và sét hòn trong ví dụ trên có thể là bởi các ion từ radar máy bay hoạt động ở công suất tối đa trong một lớp sương mù dày đặc”, Lowke suy đoán.
“Đây là nghiên cứu đầu tiên giải thích cụ thể về sự ra đời hoặc bắt đầu của sét hòn”. Lowke cũng cho biết bước tiếp theo nhóm nghiên cứu sẽ áp dụng lý thuyết này tái tạo sét hòn trong phòng thí nghiệm mặc dù không dễ dàng gì bởi nó đòi hỏi loại thiết bị có khả năng tạo ra mức điện áp 100 triệu vôn.
Nhưng ông cũng lưu ý rằng đó chỉ là suy đoán cá nhân và sẽ tiếp tục tiến hành những nghiên cứu khác để tìm ra câu trả lời cuối cùng.

(sangkhoaivn.com) Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất, vô số loài sinh vật đã xuất hiện và rồi lại biến mất. Đôi khi nguyên nhân gây ra những sự tuyệt chủng đó vẫn còn là bí ẩn chưa được làm sáng tỏ, thách thức cả nền khoa học hiện đại.
Dưới đây là danh sách 7 loài đã biến mất một cách khó hiểu nhất.

1. Châu chấu núi Rocky

Thông thường, khi nói đến sự tuyệt chủng, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến khủng long, chim dodo (còn gọi là chim cu lười) hay các sinh vật to lớn khác. Trên thực tế, nhiều loài côn trùng cũng không nằm ngoài nguy cơ đó, thậm chí còn có thể biến mất hoàn toàn trong một khoảng thời gian rất ngắn. Châu chấu núi Rocky (Melanoplus spretus) là ví dụ tiêu biểu cho trường hợp này. Thường bay theo đàn với số lượng vô cùng lớn, chỉ trong vòng 4 năm (từ năm 1873 đến 1877), châu chấu núi Rocky đã tàn phá hầu hết cây trồng trên khắp khu vực trung tây nước Mỹ, gây thiệt hại hàng trăm triệu USD. Nhưng chưa đầy 30 năm sau, loài này gần như đã tuyệt chủng trong sự ngỡ ngàng của con người. Và bởi vì không ai dự kiến được một loài phổ biến như vậy lại tuyệt chủng nên có rất ít mẫu vật được thu thập.

Lý do dẫn đến sự biến mất của chúng hiện vẫn gây nhiều tranh cãi. Không ít ý kiến cho rằng chính sự phát triển canh tác và những công trình thủy lợi đã làm phá vỡ chu kỳ đời sống tự nhiên của chúng. Trong khi đó, một số nhà khoa học lại chỉ ra sự thiếu hụt về biến thể di truyền có thể là gốc rễ vấn đề.

2. Cá mập Megalodon

Khoảng 28 triệu năm đến 1,5 triệu năm trước, các đại dương trên Trái đất đều bị thống trị bởi một kẻ săn mồi siêu hạng Megalodon. Loài cá mập khổng lồ này được coi là sinh vật có xương sống hung tợn bậc nhất trong lịch sử với những chiếc răng nhọn dài đến 18 cm. Cơ thể Megalodon có thể đạt tới chiều dài 18 mét, nặng hơn 100 tấn trong khi cá mập trắng vốn cũng là loài to lớn nhưng chỉ dài tối đa 6 mét.

Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra cho sự biến mất kỳ lạ này. Các chuyên gia tin rằng megalodon đã không thể thích ứng với sự suy giảm của mực nước biển cũng như nhiệt độ đại dương xuất hiện vào thời kỳ băng hà cuối kỷ Pliocene, đầu kỷ Pleistocene. Mặt khác, sự biến mất của những con cá voi khổng lồ - thức ăn chủ yếu của Megalodon cũng được xem là 1 phần nguyên nhân.

3. Voi ma mút lông xoăn

Cách đây khoảng 250.000 năm, voi ma mút lông xoăn (Mammuthus primigenius) phân bố trên phạm vi rộng lớn khắp Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Trong khi phần lớn chúng đã bị tuyệt chủng vào khoảng 10.000 năm trước thì một quần thể nhỏ vẫn còn sống sót trên đảo Wrangel, Bắc Băng Dương cho đến tận năm 1700 TCN.
Quá trình săn bắn của con người từ lâu vẫn được xem là nguyên nhân khiến voi ma mút lông xoăn tuyệt chủng. Số khác thì đổ lỗi cho sự biến đổi khí hậu toàn cầu với nền nhiệt độ băng giá. Một nghiên cứu chi tiết đăng tải trên tạp chí Nature Communications ngày 12/6/2012 vừa qua lại kết luận do cả 2.

4. Chuột túi mặt rộng

Sau khi người châu Âu đến định cư tại Úc cách đây vài trăm năm, nhiều sinh vật trên đất nước này đã bị suy giảm và dẫn tới tuyệt chủng do môi trường sống bị thu hẹp, do nạn săn bắn phổ biến vào giữa những năm 1800, trong đó có chuột túi mặt rộng (Potorous platyops).

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập những mẫu vật cuối cùng của Potorous platyops (một loài thú có túi dài chưa đến 0,25 mét) vào khoảng năm 1875. Tuy không biết sau đó chúng còn tồn tại được bao lâu nữa nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy việc bị mèo hoang ăn thịt cũng là nguyên nhân không nhỏ góp phần vào sự biến mất nhanh chóng đó.

5. Cóc Atelopus longirostris

Atelopus longirostris là một loài cóc mõm dài sống tại các khu rừng ẩm ướt ở miền Bắc Ecuador và đã không còn được nhìn thấy kể từ năm 1989.

Lý do tuyệt chủng của loài lưỡng cư này hiện vẫn chưa được xác định, nhưng các chuyên gia tin rằng căn bệnh chytridiomycosis do nấm Batrachochytrium dendrobatidis gây nên chắc chắn là một phần nguyên nhân. Chỉ trong vòng 30 năm qua, bệnh chytridiomycosis đã lây lan với tốc độ chóng mặt gây ra sự suy giảm hay tuyệt chủng của nhiều loài động vật lưỡng cư với tỷ lệ chết lên tới 100% nếu chẳng may mắc phải. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng nhận định A.longirostris biến mất có thể còn vì chúng phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu và mất môi trường sống.

6. Chim voi

Chim voi Aepyornis - loài chim khổng lồ không biết bay sống ở Madagascar được xem là loài chim lớn nhất trên thế giới. Chúng có chiều cao chót vót (tới 9m) và nặng gần 454 kg trong khi những con đà điểu châu Phi đực khi trưởng thành cũng chỉ cao 2,7 mét. Các nhà nghiên cứu cho rằng chúng đã hoàn toàn bị tiêu diệt vào đầu thế kỷ 18.

Có hai giả thuyết chính giải thích sự biến mất của chim voi, cả hai đều liên quan đến con người khi chính con người là thủ phạm không chỉ phá hủy môi trường sống mà còn lấy đi của chúng những quả trứng có khối lượng gấp 150 lần trứng gà. Ngoài ra, nhiều ý kiến khác cũng cho rằng những căn bệnh từ loài gà nhà đã tàn phá các quần thể chim voi.

7. Người Neanderthal

Từ lâu, nguyên nhân tuyệt chủng của người Neanderthal - người anh em gần gũi với tổ tiên loài người - cách đây khoảng 30.000 năm là một trong những đề tài tranh luận sôi nổi nhất của ngành nhân chủng học. Nhiều nhà khoa học ủng hộ ý kiến cho rằng một vụ phun trào núi lửa lớn kết hợp với đợt lạnh khủng khiếp đã giết chết người Neanderthal vốn là nhóm người khó thích ứng với những biến đổi của khí hậu.

Tuy nhiên, sau đó, các chuyên gia lại tìm được bằng chứng chứng minh thủ phạm thật sự có khả năng chính là con người hiện đại (Homo sapien), trong đó giả thuyết có sức thuyết phục nhất tính đến thời điểm hiện tại là quá trình giao phối giữa người Neanderthal với người Homo sapien bằng cách nào đó đã dẫn đến sự biến mất của họ.
(sangkhoaivn.com) Theo kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học đến từ Tây Ban Nha và Na Uy, đăng tải trên tạp chí Nature ngày 27/6, khủng long rất có thể thuộc loài động vật máu nóng.

Phát hiện này đã loại bỏ lập luận hùng hồn của giới khoa học từ trước tới nay khi cho rằng động vật khổng lồ bị tuyệt chủng này là loài máu lạnh.
Các nhà nghiên cứu trên cho biết, họ đã tiến hành nghiên cứu mô xương của các loài động vật có vú và phát hiện thấy các vòng phát triển hình cây trên xương của chúng, một đặc trưng vốn bị giới hạn ở các động vật máu lạnh tính đến thời điểm này.

Các đặc điểm trên cũng hiển thị trên mô xương của loài khủng long, chứng tỏ khủng long có thể có một tỷ lệ trao đổi chất cao cho phép sinh trưởng nhanh chóng và đây chính là dấu hiệu đặc trưng của loài động vật máu nóng.

Các nhà khoa học trước đây cũng đã phát hiện ra rằng, do kích thước cơ thể cực lớn và tiêu thụ một lượng thức ăn khổng lồ, khủng long có khả năng sản sinh ra nguồn năng lượng cực lớn tỏa ra môi trường. Bằng cách nào đó họ không giải thích được, những con khủng long to lớn này đã làm giảm thân nhiệt của chúng xuống từ 4-7 độ C. Mức thân nhiệt của chúng tồn tại ở mức nhiệt từ 36-38 độ C, hoàn toàn giống với thân nhiệt của các loài động vật máu nóng. Trong khi các loài bò sát ngày nay lại thuộc lớp động vật máu lạnh, vì chúng không thể kiểm soát được nhiệt độ cơ thể thông qua hệ thống trao đổi chất của bản thân mà phải dựa vào các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ từ ánh nắng mặt trời. Ông Meike Koehler đến từ Viện Catala de Paleontologia của Tây Ban Nha khẳng định, những kết quả họ thu thập được là bằng chứng rõ ràng chứng tỏ khủng long là loài máu nóng và gợi ý một sự nhìn nhận lại về loài bò sát. Từ lâu, các nhà cổ sinh học luôn tập trung vào dấu hiệu hình vòng hiển thị trên xương của khủng long và các loài vật máu lạnh, dựa vào đó để chỉ ra sự tạm dừng sinh trưởng, cõ lẽ là do thời kỳ khí hậu lạnh giá hoặc thiếu thức ăn. Koehler và nhóm nghiên cứu của bà đã phát hiện được dấu hiệu vòng xương trên ở tất cả 41 loài động vật máu nóng mà họ nghiên cứu, bao gồm cả linh dương, hươu và hươu cao cổ. Khi so sánh các mô xương của các động vật máu nóng trên với mô xương của khủng long dường như không thấy điểm khác biệt. Kết quả phân tích mô xương khủng long cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các loài động vật có vú có liên quan đến quá trình trao đổi chất cao, một đặc điểm điển hình có ở loài động vật máu nóng. Phát hiện trên của các nhà khoa học đến từ Tây Ban Nha và Na Uy được coi là những bằng chứng mới nhất và có cơ sở nhất chứng tỏ khủng long là loài máu nóng.
(sangkhoaivn.com) Theo lời sấm dựa trên bộ lịch nổi tiếng cổ xưa của người Maya, ngày tận thế đang gần kề - ngày 21/12/2012. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã "bật lại" một vài giả thuyết này trên trên tạp chí National Geographic.

Vũ trụ sẽ bắn phá trái đất
Theo thuyết này, năm 2012 Trái đất sẽ lâm nguy khi 2 cực của nó đổi chỗ. Các tiểu hành tinh sẽ va vào trái đất, bức xạ mặt trời làm mất ổn định lớp nhân của trái đất dẫn đến các thành phố bị nhấn chìm xuống biển.Tuy nhiên, theo nhà địa chất Adam Maloof thuộc Đại học Princeton (Mỹ), người nghiên cứu rất sâu về sự thay đổi 2 cực Trái đất, những chứng cứ từ tính bên trong lớp đất đá của trái đất cho thấy hành tinh của chúng ta sẽ trải qua một sự sắp xếp lại rất mãnh liệt. Nhưng tiến trình này phải mất hàng triệu năm, đủ lâu để con người có thể tìm nơi khác sinh sống.

Hành tinh X sẽ va vào trái đất

Kính viễn vọng không gian Hubble năm 2002 đã chụp được bức hình ngôi sao V838 Monocerotis và những đám mây bụi xung quanh. Đây được cho là chứa đựng bằng chứng về một thế giới ma quái hay còn gọi là hành tinh X đang trên đường tiến đến trái đất.Tuy nhiên, nhà sinh vật học vũ trụ của NASA, David Morrison, cho rằng không có hành tinh nào ở đó cả. "Nếu có một hành tinh đang tiến vào hệ mặt trời trong khoảng 3 năm nữa thì các nhà thiên văn học đã phải tìm hiểu chuyện này từ hàng thập kỷ trước và hiện tại bằng mắt thường cũng có thể nhìn thấy nó".

Dải ngân hà thẳng hàng

Nhiều người thích ngắm bầu trời tin rằng năm 2012 dải ngân hà sẽ thẳng hàng, một sự kiện chỉ xảy ra sau 26.000 năm.Người ta sợ điều này sẽ khiến trái đất phải đối mặt với những thế lực bí hiểm, có thể gây nên tận thế sớm do sự thay đổi 2 cực hay sự xáo trộn lỗ đen khổng lồ ở trung tâm dải ngân hà.Tuy nhiên, theo David Morrison, không có chuyện dải ngân hà xếp thẳng hàng, mà chỉ có một hiện tượng xếp thẳng hàng là khi đông chí, từ trái đất chúng ta sẽ thấy mặt trời xuất hiện gần trung tâm của dải ngân hà.Thông thường, ngày đông chí sẽ rơi vào ngày 21/12 hàng năm, trùng với ngày theo dự đoán của người Maya. Hiện tượng thẳng hàng này không có bất cứ tác động nào tới sự sống trên trái đất.

Người Maya biết trước ngày tận thế

Lịch của người Maya không kết thúc vào năm 2012. Nhưng ngày 21/12/2012 lại quan trọng đối với người Maya. Đó là lúc vòng tuần hoàn lớn nhất trong lịch của Maya, khoảng 5.100 năm kết thúc và một vòng tuần hoàn mới bắt đầu.Theo nhà khảo cổ Anthony Aveni, trong suốt thời kỳ cực thịnh, người Maya đã phát minh ra lịch Long Count, loại lịch tuần hoàn dùng để truyền tải văn hoá của người Maya cho thế hệ mai sau.Ngày đông chí năm 2012 là thời điểm kết thúc một kỷ nguyên trong lịch Long Count, vốn bắt đầu từ 11/8 năm 3114 TCN và người Maya gọi mốc này là ngày số không. Tháng 12/2012 là thời điểm kết thúc của lịch và bắt đầu một kỷ nguyên.

Dự đoán thực sự của người Maya

Nếu người Maya không nghĩ thời gian sẽ kết thúc ở năm 2012, vậy chính xác họ dự đoán gì cho năm này?Nhiều học giả miệt mài tìm tòi các chứng cứ nằm rải rác trong các công trình của người Maya cho rằng đế chế Maya không để lại ghi chép rõ ràng nào dự đoán có gì đặc biệt xảy ra năm 2012.Nhưng người Maya đã để lại một biểu đồ về kịch bản ngày tận thế, dù không ghi ngày. Nó mô tả thế giới sẽ bị ngập lụt, tương tự kịch bản của các nền văn hoá khác. Kịch bản này không phải dùng để đọc theo nghĩa đen, mà chúng được dùng như một bài học dạy về cách cư xử của con người.
(sangkhoaivn.com) Một số phát hiện khảo cổ có sức ám ảnh ghê gớm, vẽ lên bức tranh khủng khiếp về cuộc sống và cái chết trong quá khứ.
Trong ngành khảo cổ, những đoạn xương hay ký ức ám ảnh về những người đã qua đời từ rất lâu là điều bình thường đối với các nhà khoa học. Tuy nhiên, một số phát hiện như dưới đây có sức ám ảnh ghê gớm hơn cả, vẽ lên bức tranh khủng khiếp về cuộc sống và cái chết trong quá khứ.

1. Người Neanderthal ăn thịt đồng loại

Năm 2010, các nhà nghiên cứu cho biết họ tìm thấy bộ xương của các thành viên trong một gia đình người Neanderthals trong hang động ở Tây Ban Nha. Điều rùng rợn là những bộ xương này mang dấu hiệu cho thấy họ đã bị đồng loại ăn thịt.
Ba phụ nữ, ba người người đàn ông, ba thiếu niên, hai đứa trẻ và một em bé sơ sinh có thể đã trở thành bữa ăn của một nhóm người Neanderthal.

Theo các nhà khảo cổ học, gia đình này không phải là bằng chứng duy nhất cho tục ăn thịt đồng loại của người Neanderthal. Có vẻ như khi điều kiện sống trở nên khắc nghiệt, người Neanderthal không ngại ngần hạ gục cả đồng loại của mình.

2. Em bé Alaska bị thiêu trong lò sưởi

Cách đây khoảng 11.500 năm, một em bé 3 tuổi bị thiêu và bỏ lại trong một lò sưởi ở miền trung Alaska. Sau đó, ngôi nhà bị lấp và bỏ hoang.
Bộ xương cô đơn - được tìm thấy trong tình trạng được sắp xếp giống như hồi bị đốt trong lò sưởi - khiến nhà khảo cổ học Ben Potter và Joel Irish ở ĐH Alaska không thể cầm lòng, vì con họ cũng trạc tuổi em bé khi bị thiêu trong lò.
“Đó là cảm xúc không thể nào quên đối với chúng tôi, vượt ra ngoài khía cạnh khoa học, thì đó là một con người đang sống, đang thở trước khi bị thiêu", Potter nói.

3. Ngôi mộ bí ẩn

Bộ xương bị đốt được tìm thấy trong một ngôi mộ hoàng gia.
Bộ xương bị đốt được tìm thấy trong một ngôi mộ hoàng gia. (Ảnh: LiveScience)
Bị chôn, rồi bị đào lên để thiêu, sau đó bị chôn lại. Đó là số phận của Philip III Arrhidaios, người anh em cùng cha khác mẹ và cũng là người nối nghiệp Alexander Đại đế. Câu hỏi được đặt ra là: các nhà khảo cổ học có tìm thấy thứ gì còn sót lại của người đàn ông nay sau những gì người ta làm với ông?
Một ngôi mộ hoàng gia ở Hy Lạp chứa bộ xương bị cháy của một người đàn ông và một phụ nữ trẻ. Đó có thể là nơi an nghỉ của Philip III và vợ ông, tức nữ hoàng Eurydice. Hai người đó bị Olympias - mẹ kế của Philip II và là mẹ của Alexander Đại đế - giết và bị ép tự tử. Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng chủ nhân của bộ xương bị đốt trong mộ chính là Philip II, cha của Alexander Đại đế.
Nếu đúng như vậy, thì người phụ nữ được chôn cùng chính là Cleopatra, người vợ cuối cùng của Philip II (Cleopatra ở đây không phải là nữ hoàng Ai Cập nổi tiếng).
Cuộc tranh luận chưa ngã ngũ rằng ngôi mộ là nơi an nghỉ của Philip II hay Philip III. Các nhà khoa học cũng chưa biết rõ liệu bộ xương bị đốt trước hay sau khi phần cơ và nội tạng đã rữa.

4. Chuyến thám hiểm xấu số

Chuyến thám hiểm tới Northwest Passage huyền thoại (tuyến đường biển xuyên qua Đại tây dương) khiến rất nhiều thiệt mạng, trong đó có 129 nhà thám hiểm phải bỏ mạng năm 1845. Nhóm thám hiểm do thiếu tướng hải quân Anh John Franklin dẫn đầu đã lạc vào vùng toàn băng tuyết vô định, khiến họ bị đói, thiếu chất, mất nước và kiệt sức.
Rất nhiều người trong số họ còn bị ngộ độc chì, có thể là do thực phẩm đóng hộp mà họ đã ăn. Lượng chì cao trong máu dẫn tới nôn mửa, cơ thể yếu ớt và co giật.
Thời gian đầu, những người chết được chôn cất, dù chỉ rất nông. Nhưng về sau, khi ngày càng nhiều người chết, các thi thể bị bỏ mặc, và một số người có thể đã bị ăn thịt. Chỉ một số ít trong đó được nhận dạng dù người ta đã nỗ lực tái tạo khuôn mặt.

5. Chiến tranh hoá học cổ đại

Chiến tranh thời cổ đại thường liên quan tới vũ khí cầm tay, nhưng một nhóm gồm ít nhất 20 lính La Mã đã chết cực kỳ kinh khủng cách đây gần 2.000 năm. Trong một cuộc vây hãm của quân đội La Mã ở TP. Dura, Syria, lính Ba Tư đã đào một số đường hầm dưới tường thành để chống kẻ thù. Quân La Mã cũng đào hệ thống đường hầm riêng để trả đũa. Nhưng khi người Ba Tư biết quân La Mã sắp tới, họ đã chuẩn bị trước cái bẫy vô cùng lợi hại: phun đám khói chứa hỗn hợp chất độc biến phổi của lính La Mã thành axit.
Những đường hầm này được các nhà khảo cổ học phát hiện vào những năm 1920 và 1930, và sau đó được lấp lại. Một số nhà khảo cổ học hiện đại nghĩ rằng những bộ xương và chất sulfur kèm nhựa đường là bằng chứng còn sót lại của một cuộc chiến tranh hoá học.

6. Người hủi đầu tiên

Bằng chứng cổ nhất về bệnh hủi.
Bằng chứng cổ nhất về bệnh hủi. (Ảnh: LiveScience)
Trong một thời gian dài, bệnh hủi hay còn gọi là bệnh phong bị coi là sự nhục nhã. Ngày nay, căn bệnh này không còn nguy hiểm nữa, nhưng trong lịch sử, những người từng mắc căn bệnh này luôn bị xua đuổi và hắt hủi, một phần là do cơ thể của họ bị căn bệnh làm cho biến dạng.
Một bộ xương 4.000 tuổi được tìm thấy ở Ấn Độ là bằng chứng khảo cổ học cổ xưa nhất về bệnh hủi. Bộ xương còn sót lại cho thấy người này đã bị xã hội ruồng bỏ: người Hindu có truyền thống hoả thiêu, và chỉ những người không đủ tiêu chuẩn mới bị chôn.
Bộ xương của bệnh nhân hủi được chôn trong một hốc đá và phủ đầy tro đốt từ phân bò. Thời đó, tro từ phân bò được cho là thiêng liêng và tinh khiết.

7. Nghệ sĩ nhào lộn bị hiến tế

Các nhà khảo cổ học tìm thấy bộ xương không đầu của một nghệ sĩ nhào lộn bị hiến tế.
Các nhà khảo cổ học tìm thấy bộ xương không đầu của
một nghệ sĩ nhào lộn bị hiến tế. (Ảnh: LiveScience)
Bằng chứng về tục hiến tế con người được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, nhưng một địa điểm hiến tế được phát hiện năm 2008 dường như rất đặc biệt. Trong một ngôi nhà ở vùng đất ngày nay thuộc Syria, các nhà khảo cổ học tìm thấy những bộ xương người và xương động vật được sắp xếp kỳ lạ.
Ba bộ xương người nằm cạnh nhau, không có đầu. Dưạ trên những thương tổn ở khung xương và sự phát triển quá mức ở khu vực dây chằng và xương, các nhà nghiên cứu cho rằng một trong những bộ xương đó có thể của nghệ sĩ nhào lộn.
Khu nhà đó bị chất đầy bụi bẩn và bị bỏ hoang sau khi người ta bỏ lại những cơ thể không đầu trong đó, khiến các nhà nghiên cứu ngờ rằng động vật và những người làm công việc giải trí đã bị hiến tế, hoặc có thể bị sót lại sau một thảm hoạ thiên nhiên hayy tương tự như thế.

(sangkhoaivn.com) Các nhà khảo cổ tin rằng hai bộ xương bí ẩn cổ nhất, 3000 năm tuổi, tìm thấy tại Cladh Hallan, trên đảo Scotland, Anh được ghép từ nhiều xác ướp khác nhau đã hé lộ một trong những phương pháp ướp xác của người tiền sử.
Hai bộ xương nguyên vẹn được khai quật tại Cladh Hallan là bằng chứng đầu tiên minh chứng rằng người Anh bảo quản xác chết bằng phương pháp ướp xác.
Xác ướp được ghép từ các bộ phận của nhiều xác ướp khác nhau.
Xác ướp được ghép từ các bộ phận của nhiều xác ướp khác nhau.
Trước đây, danh tính của những xác ướp này mãi là một bí ẩn cho đến khi các nhà khoa khám phá ra một sự thật đáng sợ rằng chúng được ghép từ xương của nhiều xác ướp khác nhau.
Dưới sự trợ giúp của công nghệ tiên tiến, một nghiên cứu mới đây đã cho thấy hai bộ xương được ghép từ xương bộ phận của 6 xác ướp đã chết cách đây hàng trăm năm.
Các xác ướp được chôn cất cẩn thận tại một vị trí kín đáo, nơi mà chúng được sắp xếp như hình dạng một bào thai
Các xác ướp được chôn cất cẩn thận tại một vị trí kín đáo,
nơi mà chúng được sắp xếp như hình dạng một bào thai
Năm ngoái, một nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng các bộ phận cơ thể này chính là của những thành viên trong cùng một gia đình. Chúng được ghép lại với nhau như trò chơi xếp hình để tạo thành một xác ướp hoàn chỉnh.
Các cuộc kiểm tra DNA mới đây của trường Đai học Manchester cũng cho thấy một trong hai xác ướp trước đây được nhận dạng giới tính là nữ vì dựa vào đặc điểm khung xương chậu nhưng sự thật nó là một xác ướp được ghép hỗn hợp các bộ phận của 3 xác chết khác nhau và hôp sọ của xác ướp cũng được xác định là của nam giới.
Sơ đồ Cladh Hallan, nơi tìm thấy hai xác ướp 3 nghìn năm tuổi
Sơ đồ Cladh Hallan, nơi tìm thấy hai xác ướp 3 nghìn năm tuổi
Các xác ướp được chôn cất cẩn thận tại một vị trí kín đáo, nơi mà chúng được sắp xếp như hình dạng một bào thai. Phương pháp chôn cất này được tìm thấy vào thời kỳ đồ đồng.
Mặc dù vậy, các nhà khảo cổ vẫn hoài nghi về việc làm thế nào các bộ phận từ 6 thi thể khác nhau có thể sắp xếp vừa vặn trong cùng một xác ướp.
Giáo sư Mike Parker Pearson đến từ Đại học Sheffield cho biết các xác ướp đã không được chôn cất ngay sau khi ướp và những xác ướp tương tự các xác ướp này cũng được tìm thấy tại Peru.
“Xác ướp có thể là sự kết hợp từ các bộ phận cơ thể của những thi thể cùng huyết thống. Chúng được xếp vào với nhau và sự sắp đặt này dường như cố ý”, ông cho biết thêm.
Giống như một phần trong phong tục thờ cúng tổ tiên, các xác ướp này có thể sẽ là sự trợ giúp về mặt tâm linh cho cộng đồng trước những quyết định.
Những xác ướp tại Cladh Hallan là một phần đáng chú ý nhất trong cuộc khai quật thời kỳ đồ đồng vào năm 2001
Những xác ướp tại Cladh Hallan là một phần đáng chú ý
nhất trong cuộc khai quật thời kỳ đồ đồng vào năm 2001
Nơi phát hiện ra các xác ướp là trên nền của những ngôi nhà còn sót lại trong thời kì đồ đồng. Sau khi xác định niên đại, các xác ướp được xác định là chết vào khoảng 300 và 500 năm trước khi những ngôi nhà mới được xây, có nghĩa là chúng đã được giữ lại trên mặt đất vào các đời sau.
Nhiều cuộc thử nghiệm sau đó lại chứng minh rằng tất cả các mẩu xương đều được khử khoáng, một quá trình được thực hiện bằng cách đặt thi thể vào trong môi trường giống như một đầm lầy than bùn.
Mức độ khử khoáng chỉ ra rằng sau khi chết đi, các thi thể đã được đặt vào trong các đầm lầy than bùn để ướp trong vòng một năm trước khi được khôi phục lại.
Các xác ướp được chôn dưới những ngôi nhà 3500 năm tuổi
Các xác ướp được chôn dưới những ngôi nhà 3500 năm tuổi
Đến nay, các nhà khảo cổ đã khai quật được ba trong số các xác ướp nằm trong một kiến trúc phức tạp bao gồm bảy ngôi nhà đươc xây 1 nghìn năm trước Công Nguyên. Những ngôi nhà này không chỉ là nhà ở mà còn là nơi diễn ra các nghi lễ thờ cúng.
Khi cấu trúc nhà được xây dựng, hai trong số những xác ướp cổ sau đó cùng với xác của một con cừu, có thể là một sự trừng phạt, được chôn tại ngôi nhà nằm xa nhất về phía Bắc.
Cũng vào thời điểm đó, thi thể của một cô gái 13 tuổi, chưa được ướp xác cũng được chôn dưới nền nhà. Bên dưới nền nhà của ba ngôi nhà phía Nam đã được khai quật cũng phát hiện xác ướp ba đứa trẻ đã được chôn cách 1 nghìn năm trước Công Nguyên.
Nhà báo chuyên về khảo cổ học Daivid Key cho biết: “Những nghiên cứu khảo cổ học trong tương lai sẽ có cơ hội để trả lời những thắc mắc này”.
Tuy nhiên, tại thời điểm này, việc phát hiện ra các xác ướp đầu tiên của Anh nên bắt đầu xác định lại các khía cạnh quan trọng trong sự sống cũng như cái chết của những người Anh thời tiền sử.
Click để bắt đầu chia sẻ những bức ảnh vui!

LIKE BOX