Ảnh Trung Quốc
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Chúng ta thường không tránh khỏi xu hướng tập trung sự quan tâm vào các nhà lãnh đạo khi đánh giá các cuộc chuyển giao chính trị và kinh tế lớn. Nhưng họ không phải là diễn viên duy nhất trong những vở kịch này.
Đặng Tiểu Bình và các cộng sự giành chiến thắng chính bởi vì họ đã giải phóng sức sáng tạo và thôi thúc tinh thần doanh nhân của hàng triệu người Trung Quốc. Nhiều trong số họ - có thể bạn sẽ thấy bất ngờ - thậm chí không phải là thành viên đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tháng 1/1979, quanh khoảng thời gian đó, Đặng Tiểu Bình đang chuẩn bị cho chuyến thăm tới Mỹ, một thanh niên tên Dung Chí Nhân (Rong Zhiren) trở lại quê Quảng Châu, trước đây thường gọi là Canton, thành phố lớn nhất tỉnh Quảng Đông, ngay bên kia là Hồng Kông. Ông đã bước sang tuổi 30 nhưng chưa gặt hái thành công cụ thể so với một người ở tuổi đó. Lý do là cuộc Đại cách mạng văn hóa. Tâm điểm của Đại cách mạng văn hóalà chiến dịch chống lại trí thức, đọc sách và "Bốn Cũ" (thói quen cũ, ý tưởng cũ, phong tục cũ và văn hóa cũ). Năm 1966, ông ra lệnh đóng cửa các tổ chức giáo dục sau đại học của Trung Quốc. Trong những năm sau đó, 17 triệu sinh viên được cử đi các vùng nông thôn để tìm hiểu về ưu điểm trong cuộc sống giản dị của giai cấp nông dân. Các kỳ thi vào đại học không được tổ chức lại cho tới mùa thu 1977. Đến đầu năm 1979, chỉ 7 triệu sinh viên Trung Quốc quay trở lại thành phố.
Khi cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số sinh viên ở lại nơi họ được phân về. Nhưng thanh niên Dung thì không. Được cử về nông thôn năm 1969, anh tìm cách lẻn đi càng nhanh càng tốt khi có cơ hội. Anh phải trốn tránh cảnh sát trong suốt một chục năm và kiếm sống bằng đủ thứ việc lặt vặt, như vẽ tranh và gia sư. Anh sống cùng bạn bè, di chuyển nơi này qua nơi khác. Tháng 12/1978, trở lại Quảng Châu trong cảnh đang chạy trốn, anh nghe được một chương trình phát thanh công bố kết quả Hội nghị Trung ương lần thứ ba lịch sử tại Bắc Kinh, cuộc họp chính thức thông qua kế hoạch cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình.
Giống như hàng triệu người dân Trung Quốc khác, anh hiểu rằng điều gì đó chuyển biến căn bản đang sắp diễn ra - và bao gồm cả sự mở cửa cho tinh thần doanh nhân. "Tôi biết chính sách này sẽ tồn tại lâu dài bởi người dân Trung Quốc muốn làm giàu", anh viết lại cảm nghĩ của mình khi đó.
Tháng 1/1979, anh quyết định sẽ là một trong những người đầu tiên chớp lấy cơ hội này. Anh nộp đơn xin đăng ký kinh doanh. Thủ tục hành chính hết sức gây đau đầu: Một trong những yêu cầu là phải kiểm tra thể chất toàn diện để đảm bảo người đăng ký không mắc bệnh truyền nhiễm. Nhưng hóa ra mọi việc lại hoàn toàn trong tầm tay. Anh vượt qua các thủ tục chỉ trong vòng vài ngày. (Ngày nay thường phải mất gần 3 tuần). Chính quyền Quảng Đông hào hứng đẩy nhanh mọi việc, ra sức khuyến khích thành lập doanh nghiệp.
Dung bắt đầu công việc kinh doanh của mình vào ngày 18/3 - một ngày may mắn vì số 18 phát âm giống cụm từ "bạn chắc chắn sẽ giàu" trong tiếng Hoa. Nghe theo lời khuyên của những người xung quanh nơi anh đang làm việc, anh quyết định mở một nhà hàng nhỏ chuyên phục vụ điểm tâm sáng. Món ăn đặc trưng của quán là thức ăn nhanh truyền thống của Quảng Đông: cháo sườn - đậu phộng.
Quán ăn được khai trương - một căn lều dựng bằng khung gỗ do anh tự làm - tại một ngã tư gần trường học. Anh tính mình có thể bán món điểm tâm giá tốt cho những cô cậu sinh viên đói bụng. Vốn khởi nghiệp của anh là 100 NDT (khoảng 65 USD tính theo tỷ gia chính thức khi đó), 60 NDT trong số đó anh vay mượn tự bạn gái. Đồ đạc và chiếc nồi lớn anh mượn bạn bè.
Ban đầu anh cũng rất lo lắng. Việc làm kinh doanh thường bị những nhiều người có học chê bai, họ coi đó là những thứ thấp hèn. Nhưng những lo lắng đó bắt đầu vơi đi khi ông bị cuốn vào thói quen công việc hằng ngày, và tiền cũng dần thu về. Gần như ngay lập tức, nhà hàng gặt hái những thành công rực rỡ.
Tháng 5/1979, Tom Gorman, một doanh nhân Mỹ tại Hồng Kông, bắt đầu một chuyến đi nữa tới Hội chợ Thương mại Quảng Đông. Như một phần trong công việc với một nhà xuất bản các tạp chí thương mại của Hồng Kông, ông từng đôi lần đến với hội chợ, do vậy ông khá tường tận đường đi lối lại. Những năm 1970, người nước ngoài muốn làm ăn kinh doanh tại quốc gia đông dân nhất thế giới này phải tuân thủ những thủ tục đặc biệt. Họ chỉ có thể vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng một con đường, từ Hồng Kông. Tại đó, họ bắt chuyến tàu từ nhà ga Tsim Sha Tsui ở Cửu Long (Kowloon), bên kia bến cảng của đảo Hồng Kông, đánh dấu bởi một chiếc tháp đồng hồ lộng lẫy từ thời thuộc địa, và hướng về phía bắc thông qua vùng quê cận nhiệt đới xanh mướt tới điểm giao cắt biên giới Lo Wu. Họ mang theo hành lý của mình lên bờ và đi bộ qua cây cầu có tên là Cầu Hữu Nghị, một kiến trúc gỗ thô sơ bắc qua con sông êm đềm Shumchun.
Ở bên kia, khách được chào đón bởi đội biên phòng mặt mày khá nghiêm túc, mặc quân phục và đeo phù hiệu. Họ là người kiểm tra thị thực và cấp quyền ưu tiên nhập cảnh.
Và tình hình trên vẫn diễn ra trong mùa xuân 1979. Cũng như mọi lần trước đó, lính biên phòng đưa Gorman tới một phòng chờ hải quan, nơi ông điền vào rất nhiều các loại giấy tờ ghi lại mọi thứ thuộc sở hữu của mình. Các quan chức kiểm tra hồ sơ tiêm chủng của ông. (Nếu bạn không được tiêm đủ mũi yêu cầu, họ lập biên bản những mũi còn thiếu ngay tại chỗ, do vậy cần phải chuẩn bị tốt trước khi qua). Đến giữa trưa, và điểm dừng tiếp theo của Gorman và hành khánh cùng đoàn là một nhà ăn đặc biệt vùng biên, phục vụ thức ăn khá sang trọng, cùng với món bia Thanh Đảo. Sau bữa trưa là thời gian nghỉ trưa bắt buộc, tại phòng chờ trang bị ống nhổ và ghế bành có cả vải bọc. Gần như không có lựa chọn nào khác. Miền nam Trung Quốc đang trải qua cái nóng nực khủng khiếp của mùa hè, nhưng nơi đây không hề có máy điều hòa. Và chuyến tàu từ nhà ga Shumchun tới Quảng Châu khởi hành sau mỗi điểm dừng bất thường.
Gorman đến khách sạn của mình tại Quảng Châu và tiếp tục thói quen. Vào thời điểm đó, cách duy nhất để làm ăn tại Trung Quốc là tạo dựng mối liên hệ với 1 trong 14 bộ kiểm soát mỗi ngành công nghiệp khác nhau của nước này (như hóa chất, thép, công nghiệp nhẹ...). Nhưng nói thì dễ vậy thôi, các quan chức Trung Quốc vẫn đặc biệt giấu kĩ thông tin. Khi làm việc với người nước ngoài phải hết sức cẩn trọng nếu không muốn phải vào trại lao động hoặc tệ hơn.
Lúc nào bạn cũng có thể tới tòa nhà hội chợ thương mại và tìm kiếm người bạn muốn gặp (giả sử bạn đã biết người đó), nhưng điều đó không đảm bảo bạn gặp được họ. Tuy nhiên, không có lựa chọn khác. Bạn chắc chắn không thể chờ đợi họ đến gặp bạn.
Đó là tất cả lý do tại sao Gorman và nhiều người Mỹ khác tại hội chợ đã ngồi dậy và chú ý khi một nhóm các công chức Trung Quốc bước đến gần với một đề nghị: các anh người Mỹ có muốn dành chút quan tâm tới một cơ hội đầu tư? Chỗ đó không cách quá xa Quảng Châu; và sẽ cần một chuyến đi qua đêm. Tất cả những người Mỹ tại đó trả lời, có.
Đúng ngày hẹn, họ khởi hành từ Quảng Châu trên chiếc xe van cứ rung lên từng hồi qua con đường đất xấu xí. Và rồi, nó hỏng giữa đường, mọi người phải xuống đi bộ tới điểm mà bên chủ nhà Trung Quốc có thể sắp xếp một chuyến đi khác. Tuy nhiên, cuộc đi bộ cũng không phải là thời gian quá vô bổ; cả nhóm đi qua một khu chợ nông thôn nơi nông dân địa phương đang chào bán đủ thứ nông phẩm, một chi tiết mà không ai trong số những người Mỹ này từng nhớ là đã nhìn thấy trước đó.
Cuối cùng, sau chuyến đi trọn một ngày trong cái nóng dữ dội, họ cũng đến nơi. Hóa ra nó ở ngay bên kia biên giới Hồng Kông - cách không xa so với điểm giao cắt Lo Wu nơi tất cả những người nước ngoài nhập cảnh vào đại lục Trung Quốc. (Thời gian này bạn không thể bay trực tiếp từ nước ngoài sang Bắc Kinh). Những người Mỹ hoang mang theo các chủ nhà đến đầu một con đê, nơi mà những người hướng dẫn phía Trung Quốc chỉ tay về phía không gian trải rộng trước mắt họ. Đó không hẳn là thứ họ muốn tìm.
Tất cả những gì người Mỹ có thể thấy là một quang cảnh miền nam Trung Quốc bình thường: có những cánh đồng lúa, nơi những người nông dân cùng con trâu đang đi cày theo cái cách đã có từ lâu đời, và những cái ao nhỏ. Có một số cây cối, và đây đó là khu sinh sống khiêm tốn của người nông dân.
Những gì mấy anh Trung Quốc miêu tả có vẻ chẳng có quan hệ gì với thứ họ muốn quan sát. Đây, họ nói với các khách Mỹ, là điểm của cái gọi là Cơ sở Ngoại thương Bảo An. Đảng đã chỉ định nó trở thành một khu vực đặc biệt thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Theo các kế hoạch đang được bàn thảo, đây sẽ sớm trở thành khu vực của các nhà máy hóa chất, xưởng may và các nhà máy chế tạo. Và tất nhiên sẽ có nhiều khách sạn cho doanh nhân nước ngoài. Sẽ là một cơ hộ kiếm tiền tuyệt vời.
Những người Mỹ nghĩ mấy anh Trung Quốc đang điên. "Nó vượt quá trí tưởng tượng của bất kỳ ai", Gorman nói. "Tôi không nghĩ có ai trong chúng tôi lắng nghe buổi họp và nói 'vâng, điều đó rất khả thi'. Chắc hẳn điều ai nấy đảm nhận là 'Các anh có đang say thuốc không vậy?'"
Ngày kế tiếp, sau một đêm khó ngủ ở khách sạn duy nhất tại địa phương (không điện, không nước), người Mỹ dự một buổi họp nơi người Trung Quốc trải ra những bản thiết kế mô tả hàng mẫu đất với các nhà xưởng, kho chứa và các cơ sở khác. Các kế hoạch thể hiện một tham vọng đáng ngạc nhiên. "Thực sự rất khó tin", Gorman nhớ lại. "Ở Trung Quốc khi đó chẳng có gì diễn ra nhanh cả - trừ chính trị. Kinh doanh và xây dựng không đâu diễn ra với thời gian như vậy".
Trâm Anh
Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung. Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất bắc nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.
Từ khoảng năm 2000 cán cân thương mại của Việt Nam ngày càng nhập siêu. Quy mô nhập siêu lớn đến nỗi gây bất ổn trong kinh tế vĩ mô từ năm 2007. Một trong mấy nguyên nhân chính của hiện tượng nhập siêu này có thể thấy trong cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với Trung Quốc. Quyết tâm thay đổi cơ cấu này không những cải thiện được cán cân thương mại bất quân bình trầm trọng hiện nay mà còn là con đường để Việt Nam phát triển, tiến lên ngang hàng với trình độ phát triển của nước láng giềng phương bắc.
Tính chất "Bắc - Nam" trong quan hệ kinh tế Việt Trung
Từ thập niên 1950, một tiêu điểm nổi lên trong quan hệ kinh tế quốc tế là vấn đề Bắc - Nam. Các nước phát triển hầu hết là ở bắc bán cầu, các nước chậm tiến ở phía nam. Vấn đề ở chỗ là khoảng cách phát triển giữa Bắc và Nam ngày càng mở rộng. Làm sao để các nước phía Nam phát triển nhanh, thu hẹp khoảng cách với các nước phía Bắc là quan tâm chung của cộng đồng thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua.
Sự cách biệt kinh tế giữa các nước phía Bắc với các nước phía Nam phản ảnh rõ nét trong quan hệ ngoại thương. Các nước phía Bắc xuất khẩu hàng công nghiệp còn các nước phía Nam xuất khẩu nguyên liệu, các hàng nông, lâm, thuỷ sản ở dạng thô hoặc sơ chế.
Quan hệ buôn bán giữa Bắc với Nam với đặc tính như vậy còn được gọi là ngoại thương theo hàng dọc (vertical trade). Do đó, quá trình thu hẹp khoảng cách phát triển để giải quyết vấn đề Bắc Nam cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của các nước phía Nam để các nước nầy ngày càng xuất khẩu hàng công nghiệp sang phía Bắc, chuyển từ ngoại thương hàng dọc sang ngoại thương hàng ngang (horizontal trade).
Trong khoảng 35 năm qua, một số nước ở phía Nam đã làm được một kỳ tích là nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với phía Bắc, thay đổi hẳn quan hệ ngoại thương từ hàng dọc sang hàng ngang với các nước phía Bắc.
Hiện tượng này diễn ra ngoạn mục nhất là tại các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á, gọi chung là Đông Á. Tại đây, ngoài Nhật Bản, một nước vừa thuộc phía Bắc vừa là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các nước Đông Á khác cho đến thập niên 1970 điển hình là những nước ở phía Nam mà quan hệ của họ với Nhật, Mỹ và các nước phía Bắc khác mang nặng tính chất ngoại thương hàng dọc. Chẳng hạn, mới gần 30 năm trước đây, vào năm 1980, cơ cấu xuất khẩu của các nước ASEAN còn nghiêng về các mặt hàng nguyên liệu và nông lâm thuỷ sản: Tỉ lệ của các mặt hàng này trong tổng xuất khẩu của Thái Lan và Phi-li-pin còn chiếm tới 60%, Malaysia 70% và Indonesia hơn 90%. Nhưng chưa đầy 20 năm sau, vào năm 1999, các tỉ lệ đó chỉ còn 23% tại Thái Lan, 18% tại Malayxia, 7% tại Phi-li-pin và 47% tại Indônêxia. Hiện nay các nước này đã trở thành những nước xuất khẩu hàng công nghiệp đáng kể trên thế giới.
Quan hệ Nhật Bản và Trung Quốc mới 20 năm trước đây còn là quan hệ Bắc - Nam. Trước năm 1990, hàng nguyên liệu và các sản phẩm nông lâm thuỷ sản còn chiếm trên 50% tổng nhập khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên tỉ lệ này giảm nhanh trong thập niên 1990, còn 23% vào năm 1995 và chỉ còn 17% vào năm 2000.
Nói khác đi, hiện nay hàng công nghiệp chiếm tới hơn 80% tổng xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Nhật (trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc ra tất cả thị trường thế giới, tỉ lệ của hàng công nghiệp hiện nay đã tăng lên trên 90%).
Có thể nói trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi quan hệ ngoại thương với một nước công nghiệp tiên tiến có quá trình phát triển hơn 100 năm và là một nước vốn phụ thuộc vào tài nguyên của các nước phía Nam.
Bây giờ chúng ta xét quan hệ ngoại thương hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có ba đặc tính đáng chú ý:
Thứ nhất, Việt Nam ngày càng nhập siêu với Trung Quốc. Kim ngạch nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc tăng từ khoảng 200 triệu USD năm 2001 lên 1,4 tỉ năm 2003, gần 7 tỉ năm 2007 và độ 11 tỉ USD năm 2008. Năm 2008, nhập siêu với Trung Quốc chiếm tới 60% tổng nhập siêu của Việt Nam đối với toàn thế giới. Do đó, cải thiện quan hệ ngoại thuơng với Trung Quốc là biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng mất quân bình trầm trọng hiện nay trong cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai, so với quy mô ngoại thương giữa hai nước Việt - Trung, kim ngạch nhập siêu nói trên cũng quá lớn, lớn một cách dị thường. Chẳng hạn vào năm 2008, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 4,3 tỉ trong khi nhập từ Trung Quốc tới 15,1 tỉ USD. Nhập khẩu lớn gấp 4 lần xuất khẩu và nhập siêu lên tới mức bằng 3 lần kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất chậm, từ năm 2001 đến 2008 chỉ tăng 3 lần (từ 1,4 tỉ tăng lên 4,3 tỉ USD), trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng ồ ạt, từ 1,6 tỉ lên 15,1 tỉ trong cùng thời gian.
Ngoài ra, mậu dịch ở biên giới chưa được quản lý chặt chẽ. Nhiều điều tra sơ bộ cho thấy hàng lậu nhập từ Trung Quốc rất nhiều. Nếu mậu dịch biên giới được phản ảnh, có lẽ kim ngạch nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc còn lớn hơn nhiều.
Thứ ba, quan sát mặt cơ cấu ta thấy nổi cộm lên tính chất bắc nam trong quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc sản phẩm thô hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2007, riêng dầu thô, than đá đã chiếm gần 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc và nếu kể thêm cao su, gỗ, rau quả, trà, cà phê và những sản phẩm thô sơ khác, tỉ lệ đó lên tới 80%. Hàng công nghiệp chỉ chiếm độ 20%.
Cơ cấu ngoại thương Việt Trung như vừa thấy gợi ta nhiều suy nghĩ. Đây là một quan hệ ngoại thương Bắc - Nam điển hình, một quan hệ mậu dịch hàng dọc thường thấy giữa một nước tiên tiến và một nước chậm phát triển.
Cần xác lập tinh thần Nguyễn Trãi
Phân tích ở trên cho thấy vấn đề của Việt Nam hiện nay là phải làm sao tiến lên giai đoạn phân công hàng ngang trong quan hệ ngoại thương với Trung Quốc. Nói khác đi, Việt Nam phải sản xuất ngày càng nhiều các mặt hàng công nghiệp đủ sức cạnh tranh để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc và thâm nhập được vào thị truờng rộng lớn này. Có như vậy mới thoát khỏi tính chất Bắc - Nam hiện nay và cải thiện được cán cân mậu dịch.
Về chiến lược và biện pháp cụ thể liên quan đến việc phát triển công nghiệp Việt Nam, tôi đã có dịp trình bày trong cuốn sách xuất bản vài năm trước đây (Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005, NXB Trẻ tái bản năm 2006).
Ở đây tôi muốn kết nối kết quả phân tích này với một vấn đề thời sự đang được chú ý ở Việt Nam. Gần đây, dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên đã được chính phủ quyết định tiến hành khai thác thí điểm. Nhìn từ góc độ gìn giữ môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có ý kiến không đồng tình với việc khai thác này.
Theo tôi, dự án bô-xít Tây Nguyên, sau giai đoạn thí điểm, nếu thực hiện trên quy mô lớn sẽ bất lợi cho con đường phát triển của Việt Nam. Không kể đến những điểm đã được các nhà nghiên cứu, nhà văn hoá bàn đến, việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu không phải là chính sách khôn ngoan.
Xưa nay những nước phát triển được đều là những nước biết dùng tài nguyên chứ không phải biết khai thác và xuất khẩu tài nguyên. Khôn ngoan nhất (như Nhật hoặc Hàn Quốc) là khai thác hoặc mua nguyên liệu ở nước ngoài mang về nước mình chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị. Các sản phẩm dùng nhiều tài nguyên càng về hạ nguồn càng có giá trị tăng thêm cao nên những nước đó phát triển nhanh. Chí ít là khai thác và chế biến tài nguyên, dùng ngay tại nước mình để sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp có giá trị tăng thêm cao (như kinh nghiệm của Mỹ và nhiều nước Tây Âu).
Dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên còn có một đặc tính nữa là trong quá trình khai thác có sự tham gia của các công ty Trung Quốc và sản phẩm bô xít khai thác ra sẽ được bán sang Trung Quốc. Như vậy thì dự án này sẽ làm mạnh thêm tính chất Bắc - Nam trong quan hệ ngoại thương giữa hai nước, một khuynh hướng hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam.
Sau khi thắng giặc Minh, giành lại chủ quyền cho đất nước, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi nhấn mạnh thực thể độc lập, hiên ngang của nước Đại Việt, một đất nước đã sánh vai được với cường quốc phương bắc:
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương...
Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung. Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất bắc nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.
Cũng theo Nguyễn Trãi, so với Trung Quốc, nước Đại Việt trước đây "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu". Rất mong Việt Nam ngày nay cũng không thiếu "hào kiệt".
(Nội dung bài viết đã đăng tải trên Diễn Đàn Tết Kỷ Sửu và trên Thời báo kinh tế Sài Gòn vào tháng 3 năm 2009. Lần này, viết lại cho Tuần Việt Nam, tác giả cập nhật một số thống kê và sửa đổi vài nội dung liên quan đến thời sự)
GS Trần Văn Thọ
Kính thưa làng!
Như
vậy là một năm nữa đã trôi qua. Năm vừa rồi là (rút lịch từ túi quần ra
xem) vâng năm rồi là hai nghìn mười hai. Thế nên chúng ta đang bước vào
năm (rút bàn tính ra gẩy) à năm hai nghìn mười ba. Nhìn vào mắt làng
tôi cũng thấy, tất thảy chúng ta đều rất là một sự ngạc nhiên đúng không
ạ? Tại vì, nhờ vào cái phép mầu nào mà chúng ta còn sống sót đến giờ
này, có phải không ạ? Thế thì (bỗng dưng cao giọng) anh nào ở gốc cây
kia, trưởng thôn đang phát biểu trên này mà anh ngồi chơi tò he thế à,
thật vô lễ! Muốn cắt sổ hưu không? Anh bảo gì, anh bảo anh có quyền tự
do chơi tò he à? Tự do cái cục cứt! Cái dân không giáo dục được! (Hạ
giọng) À tôi nói đến đâu rồi ấy nhỉ… à hôm nay nhân cái dịp là cuối năm,
tôi xin đại diện làng nhìn lại năm rồi (rút lịch túi quần ra xem) tức
là hai nghìn mười hai, đặng còn vạch ra hướng đi cho năm tới (rút bàn
tính ra gẩy) chính là hai nghìn mười ba. Vâng năm rồi cái làng Vãi
Chưởng… ủa quên cái làng Vững Chãi chúng ta đã đạt được rất nhiều thành
tựu, có những thành tựu lớn, lại có những thành tựu vĩ đại, những sự
kiện á là sáng ngời, tuy rằng có thể làng không được biết, vì nó thuộc
về cái chủ trương, cái đường lối chính sách từ trên.
Ảnh minh họa
Tôi
nói xí dụ như là phong trào xóa đói giảm nghèo. Làng ta năm rồi được
bằng khen về xóa đói giảm nghèo, là tại vì sao? Vì sự linh động trong
chính sách! Tôi đơn cử, Bốn Cụt trước đây là hộ đói vĩnh cửu, đói ngoan
cố, vừa rồi cũng đã bỏ làng lên thành phố làm một cái nghề chân chính là
nghề ăn mày, nghe nói một ngày y bò được hai mươi cây số đường nhựa.
Bốn Cụt bỏ làng, thế thì làng ngại gì mà không bỏ Bốn Cụt? Tôi gạch tên
Bốn Cụt ra khỏi danh sách hộ đói. Nên chi là năm rồi số lượng hộ đói của
làng ta giảm triệt để. Xong rồi mới đây thôi thì tôi cũng tăng giá bán
đèn cầy lên năm phần trăm. Là tại tôi biết làng ta đã hết nghèo đói,
tăng như thế để lấy tiền xây cái nhà chồ mười một ngàn tỉ. Mụ vợ tôi
rằng tăng giá đèn cầy trong khi đèn đóm như con cầy thế là không hợp lí.
Thế thì tôi bèn bóp miệng mụ, tôi bảo cả cái làng này tao còn bóp hầu
bóp họng được, mụ coi chừng đấy. Mụ im, còn chúng ta thì được thêm bảy
ngàn tỉ đồng, phen này nhà chồ của chúng ta sẽ thành nhà chồ đẹp nhất
huyện (phía dưới rộ lên tràng pháo tay, văng vẳng tiếng ú ớ của trưởng
thôn phu nhân).
Vừa
rồi tôi cũng có nghe làng ta than phiền là có mấy khoanh đất ruộng, đất
vườn, để đấy mãi mà không bán được. Đứa thối mồm còn bảo là đất đóng
băng. Xin thưa ngay với làng, đó chỉ là luận điệu thù địch của bọn ba
que… ờ ba que xỏ lá. Vì trước hết là đất làng ta không thể đóng băng
được. Ngay đầu làng có một cái đập nước, tôi đã cho đào tới đào lui, lại
thuê xe ben về húc thử, thành ra đất rất uyển chuyển mềm dẻo, tối nào
cũng rung với lắc, chỉ có sụt lún chứ đóng băng là đóng băng thế nào, có
phải không ạ? Thứ hai nữa là, nói xí dụ làng ta có trăm mẫu đất đi, thì
tôi đã hai mươi mẫu rồi, vợ tôi hai mươi mẫu nữa, con gái tôi hai mươi
mẫu, xin nói thêm là cháu mặc váy hồng đi giày cao gót rất đẹp, con trai
tôi lại hai mươi mẫu, cháu vừa được đưa đi dự đại hội thanh niên chậm
tiến đấy ạ, thế và các bên nội ngoại chia nhau cũng được mười bảy, mười
tám mẫu. Còn phần làng chỉ hai ba mẫu thôi. Nên nói về lo thì tôi phải
no hơn làng chứ, có phải không ạ? Chúng tôi rất no khi làng đói, làng
càng đói thì chúng tôi càng no (nói đến đây thì rút khăn mùi xoa ra hỉ
mũi rõ mạnh).
Thế
cho nên cái chuyện cậu gì đấy vì giữ miếng đất có một thẻo mà cố thủ
trong nhà, lấy đá chọi ra là tôi không thể hiểu được, mà cũng khó lòng
thông cảm cho được. Ngày tư ngày tết, không ngồi chổng khu gói bánh
chưng mà lại lôi con kéo em đi liệng đá là thế nào, có phải không ạ? Mà
miếng đất thì tôi nhắc lại là có một thẻo, móc đâu ra đá mà liệng cho
nhiều, có phải không ạ? Đã cạn suy lại làm ảnh hưởng đến đội dân phòng
của làng ta, ngày tư ngày tết không được ngồi chổng khu gói bánh chưng
mà phải dắt chó xông phi dầm mưa dãi nắng như vậy. Ấy là rất ích kỉ, tôi
phải nói thẳng thế. Nhân đây tôi cũng tuyên dương đội dân phòng làng ta
đã tổ chức phòng dân rất có chiến thuật, dưới sông bơi ghe trên bờ cưỡi
chó, dùng chùy vồ lại dùng dùi cui vố, lại đeo lá trên lưng leo lên nóc
nhà, tức là đánh đường thủy đường bộ đường không, đánh tập kích, đánh
nghi binh, thập bát ban võ nghệ thảy đều hay cả, tôi bảo có thể viết
thành sách Binh pháp Vãi Chưởng, đem đi tranh giải Nô-bên bảo đảm thắng
ngay chí ít là một nửa giải chứ không đùa đâu (bên dưới vỗ tay râm ran,
xem chừng hoan hỉ).
Nãy
nói chuyện cái nhà chồ mười một ngàn tỉ, tôi nghe làng bàn ra tán vào
là mắc quá mắc quá. Xin thưa, làng nghĩ thế là thiển cận. Vì rằng đó
không phải chỉ là nhà chồ, nó là cái giao thoa văn hóa! Là cái giao lưu
lịch sử! (Bên dưới có tiếng xì xào) Làng không hiểu giao thoa văn hóa
với giao lưu lịch sử ư? Làng dốt quá! Thế tôi lại xí dụ, vừa rồi làng
bên cạnh có cử đội văn công qua làng ta, gọi là cái đội Đùi Dài Hát Một
Bài. Thế thì các em thiếu nhi ở làng ta ra đến đầu làng chỗ có cây đa
giếng nước, em thì đu trên ngọn cây, em thì ôm gốc cây, em lại bò bò
trên thành giếng, vừa gào lên “Ối Đùi ơi!” vừa khóc nức nở. Có cái anh
giáo làng trông thế ngứa mắt, mới lên cái mạng gì mà Phết Búc chấm Vững
Chãi đấy, đăng bài thơ chửi. Các em không vừa, cũng làm thơ chửi lại.
Đấy, cái sự làng bạn hát cho làng ta nghe, gọi là giao thoa văn hóa. Cái
chuyện các thế hệ của làng ta vì bọn Đùi Dài mà chửi nhau tàn mạt, gọi
là giao lưu lịch sử. Còn cái câu thơ “Làng ngu rất đỗi tự hào, đói cơm
rách áo mà thằng nào cũng làm thơ” thì lại là tuyên truyền thôi, tôi
nhắc lại là bọn ấy nó thù địch, nó ghen ghét với làng ta nên nó mới làm
ra như thế, tội ác của bọn nó là trời không dung đất không tha.
Còn
như thế nào là trời dung đất tha ấy à? Là cái chuyện làng ta vốn làm
nghề chài lưới đã bao năm nay. Tôi nghe làng nói lại là gần đây làng ra
sông đánh cá thì hay bị làng bên cắt đứt lưới cá. Ấy là tôi nghe nói lại
thế, chứ tôi thì tôi không tin, vì làng bên với làng ta cũng như là anh
em kết nghĩa chó ỉa ba cục. Thứ nữa là muốn cắt đứt lưới cá phải tốn
nhiều công sức lắm, những là kìm cộng lực, những là dùi đục mắm cái,
biết bao nhiêu mà kể. Cho nên tôi nghĩ là chỉ vô tình chạy ngang gây
rách lưới thôi. Tôi đã nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ về vấn đề này, và
cuối cùng tôi đã nghĩ ra được một cái gọi là diệu ác kế. Bớ làng! (Làng
nháo nhác chạy) Ủa quên! Thưa làng! Để tránh gây vô tình một sự lưới
rách như thế nữa, với lại dù sao thì thế hệ tôi đi trước cũng đã vơ hết
cá vét hết tôm rồi, tôi nghĩ làng ta nên chuyển sang đánh giậm, mò cua
bắt ốc trên bờ sông thôi. Các em nhỏ cũng nên tắm ở mấy cái vũng trâu
đầm gần bờ, như thế tức là an toàn đường thủy, chỉ có tốt chứ không có
hại. Vì đá banh xong thì người các em nóng, lỗ chân lông nở to, mồ hôi
ra nhiều, tắm ở ngoài xa lỡ bị cảm không bơi vào bờ kịp thì biết làm thế
nào, tôi nói thế làng nghe có phải không ạ?
Còn
cái chuyện đá banh đá bóng ấy, thì năm rồi chúng ta có cử đội bóng tinh
nhuệ tham dự giải Bốn Ao Làng, và chúng ta xếp thứ bốn (làng ồ lên thất
vọng). Tất nhiên… vâng tất nhiên là tôi cũng như làng, chúng ta rất
buồn lòng với kết quả này, vì năm trước nữa thì chúng ta được giải Tư
kia mà, đúng không ạ. Nhưng sau khi nói chuyện với đội trưởng thì tôi
mới vỡ ra cái nhẽ, rằng chúng ta thua không phải tại chúng ta kém, cũng
không phải tại chúng ta quản lí ngu dốt gì cả. Mà là… (hạ giọng thì
thầm) cái này tôi nói với làng nghe, làng đừng đi kể với ai kẻo chúng nó
không tin lại bảo mình đặt điều. Là đội bóng chúng ta bị… bị… bị ma ám
ạ, thưa làng. Vâng cái đêm hôm ấy đêm gì, các cầu thủ của chúng ta giăng
mùng đắp chiếu chuẩn bị ngủ thì thấy bóng người đứng bên cạnh, áo rách
vai, quần có vài mảnh vá, miệng cười buốt giá chân không giày, nói là
“Tao ám chết mẹ mày đây.” (Phía dưới lặng ngắt) Thế thì còn đá với đấm
cái điếu gì nữa, có đúng không ạ? Nhân đây, đội bóng làng ta thua, làng
có đòi tôi phải từ chức trưởng thôn, nhưng tôi xin thưa luôn thế này.
Tôi ờ… được làng tin tưởng giao chức trưởng thôn đến nay đã ba mươi hai
năm, nhiệm vụ ờ… làng giao cho tôi chưa hề từ khước, tôi không chạy,
không xin, cũng không hề thoái thác, cho dù có đứa bẩn mồm bảo ờ… tôi
chưa hề làm tốt. Nên tôi xin nói luôn, ờ… hễ còn sống là tôi còn làm
trưởng thôn, làng nói gì kệ làng.
Kính thưa làng!
Còn
một số thành tựu tôi chưa kể ra đây, như chuyện thu phí trâu không
chính chủ, rồi vụ lực lượng điều phối trâu của ta bị tố là ăn tham như
lợn vân vân, nhưng tôi xin khẳng định một điều rằng làng ta đã đang và
sẽ đi đúng hướng, xây dựng một nền kinh tế làng vững mạnh có định hướng.
Tất cả những cái xấu là do đặt điều mà ra. Tất cả những cái tốt đều là
chưa miêu tả được đúng mức sự thật. Năm cũ đã qua năm mới sắp đến, làng
ta hãy đồng sức đồng lòng cùng tiến lên. Tôi đã chuẩn bị một bài thơ
chúc Tết rất hay, lời lẽ cao siêu mọi nhẽ, do nửa đêm nằm mộng được thần
phật mớm lời cho, nhưng xui cho làng là tôi để quên ở nhà rồi. Nên chỉ
xin đọc cho làng nghe mấy câu thơ tôi vừa tức cảnh sinh tình (rút tờ
giấy trong túi quần ra đọc):
Tiến lên bớ làng
Hướng về tương lai tươi sáng
Nhất định chúng ta sẽ thành công
Cho dù hiện giờ hơi quờ quạng
Vì một ngày mai cá chép mọc râu hóa rồng
Hôm nay chúng ta tạm thời ngúc ngoắc trong ao cạn.
(Diễn văn kết thúc. Làng vỗ tay như sấm rồi đứng lên phủi đít đi về)
Phan An
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


