Ảnh chuyen la viet nam

Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyen la viet nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyen la viet nam. Hiển thị tất cả bài đăng

(sangkhoaivn.com) Càng ngủ với nhiều đàn ông càng tốt, quan hệ tình dục một đêm để được xóa nợ... là tập tục kỳ lạ của một số dân tộc thiểu số Việt Nam.

Phong tục “coong trình” phóng khoáng của người Dao đỏ
Ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai – khu vực nhiều người Dao đỏ sinh sống có phong tục lạ được gọi là “coong trình”, gần giống như chuyện ngủ thăm ở một số dân tộc vùng cao. Khi người con trai, hoặc con gái từ nơi khác đến thôn bản mình chơi, những chàng trai cô gái kéo đến, nếu cô gái thích chàng trai kia thì đêm ấy cô gái rủ chàng trai ra đầu sàn, hoặc ra rừng tâm sự, họ có thể ngủ với nhau, tự nguyện, không ai cấm. Nếu ngủ với vợ người khác, phải được người phụ nữ ấy đồng ý, không may bị bắt được thì phải nộp phạt...

Sau những đêm “coong trình” những đôi trai gái nào thích nhau tự nguyện lấy nhau thì hai gia đình sẽ bàn việc cưới. Theo quan niệm của người Dao đỏ, khi về thế giới bên kia những người phụ nữ phải có nhiều người đàn ông bên cạnh để giúp họ vượt qua những gian khó của kiếp ma. Người cõng qua suối, người chặt củi, người đốn cây làm nhà, người cày ruộng làm nương... nghĩa là càng ngủ với nhiều người đàn ông càng tốt. Người ta không coi quan hệ ngoài vợ chồng thuộc phạm trù đạo đức.


 Cô gái Dao đỏ.

Chuyện quan hệ tình dục của người Dao đỏ khá phóng khoáng. Có người giải thích rằng, do cuộc sống khép kín của cộng đồng người Dao đỏ, nên quan hệ hôn nhân cận huyết nhiều cặp vợ chồng vô sinh, hoặc những đứa trẻ sinh ra dị dạng, hoặc không phát triển trí tuệ và thể hình. Chính vì thế người phụ nữ Dao đỏ muốn duy trì nòi giống bằng cách quan hệ với nhiều người đàn ông khác với vóc dáng cao to, đẹp trai để sinh ra những đứa con khoẻ mạnh, xinh đẹp. Cái lý của người Dao đỏ là: Không cho mượn, không cho xin, chỉ ăn cắp thôi. Nếu chồng người ta bắt được thì nộp phạt đôi gà và chai rượu, nhẹ nhàng không đáng kể.

“Mây mưa” một đêm để... trả nợ
Với người K'Ho trên cao nguyên Lâm Đồng trước đây, ngoại tình, bỏ vợ bỏ chồng… vốn được coi là trọng tội và bị phạt rất nặng. 

Bà mẹ K'Ho kể lại, ngày trước, khi phạm tội sẽ bị phạt bắt vạ bằng trâu, bằng bò, bằng ché... Có người suốt đời cũng không thể trả hết nợ, phải đi vay để trả nợ làm hòa. Một số luật tục nếu phạm phải sẽ bị phạt như: Người phụ nữ nào ngoại tình trước khi hết tang chồng thì phải nộp phạt cho gia đình người chết 6 con trâu, 1 chiếc áo, 1 cái mền, 1 vòng đeo cổ, và làm lễ giao hòa phải nộp thêm một ché rượu, 1 con vịt và 1 con gà mái. 


Gia đình dân tộc K'Ho.

Hay, người chồng đã lập gia đình mà ăn nằm với một người đàn bà khác thì phải nộp cho người vợ bị phản bội ít nhất 6 con trâu, 2 con dê, 1 con gà mái, 1 ché rượu, 1 cái áo, 1 vòng đeo cổ, còn cô người tình thì phải nộp phạt 6 con trâu. Những người không đủ sản vật để nộp thì bị cộng đồng coi thường, khinh bỉ. Với người quyến rũ người chồng hay vợ người khác có thể bị giết chết, quăng xác xuống suối mà không hề mắc phải tội giết người.

Nghiêm khắc là vậy nhưng luật tục của người K’Ho cũng có những điểm “dễ dãi” lạ thường. Luật tục cho phép gia đình chủ nợ có thể ăn nằm với con nợ để "lấy nợ", nếu như hai bên đều thuận tình đồng ý. Sau đêm "mây mưa" ấy, con nợ nghiễm nhiên được coi như đã trả hết nợ, và hai bên sẽ không còn ràng buộc, nợ nần gì nhau nữa.

Được luật tục cho phép, nhưng trả nợ bằng thân xác là phương án cuối cùng người dân tộc này phải lựa chọn vì với người K'Ho danh dự cũng rất quan trọng.

Nơi cho phép trai gái được... tình một đêm
Hàng năm, vào ngày 16 và 17/1 (Âm lịch), thôn Cà Roòng, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình lại tưng bừng tổ chức lễ hội Đập trống. Lễ hội có một điều đặc biệt - "đêm trời cho" như món quà tặng tuyệt vời dành riêng cho những cặp tình nhân, những đôi trai gái của núi rừng được tự do đến với nhau trong đêm trăng tình tự.


Lễ hội Đập trống. 

Trong "đêm trời cho", trai gái yêu nhau không kể già trẻ, người Ma Coong hay người Arem, Vân Kiều, người trong bản hay ngoài bản, kể cả những vị khách đến từ nước bạn Lào đều dắt nhau đến những nơi chỉ có hai người mà thôi. Ở đó, họ sẽ nói với nhau những lời đường mật, sẽ trao nhau những cử chỉ ân cần, những hành động âu yếm, những lời thề non hẹn biển. 

Những người đã có gia đình, trước đây yêu nhau mà không lấy được nhau cũng được tự do trọn một đêm với người mà mình ngày đêm mơ tưởng mà không ai được quyền cấm đoán. Mỗi năm chỉ có một đêm duy nhất, đêm của yêu đương nồng nàn, đêm của đam mê cháy bỏng, không ghen tuông, không giận hờn, chỉ có những chuyện tình bất tận sáng như ánh trăng, bí ẩn như núi rừng và ngọt ngào như tiếng suối đêm. Cho đến sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy vang rừng, khi mặt trời đỏ rực sau dãy núi đằng đông, họ mới lưu luyến trở về với gia đình để bắt đầu một ngày lao động mới, không quên trao nhau một lời hẹn cho mùa trăng tới. 

(sangkhoaivn.com) Hơn 300 năm tồn tại, người Chăm nơi đây vẫn còn vô vàn những điều kỳ lạ chưa ai có thể khám phá.

Bắt đầu từ làng Chăm – Hà Bao 2 (Đa Phước, An Phú), men theo tỉnh lộ 956 trải nhựa phẳng lỳ khoảng 20km, dọc theo con sông hậu rộng lớn, chúng tôi bắt đầu đi lên phía thượng nguồn cũng là vùng giáp ranh với nước bạn Cam-puchia để khám phá, tìm hiểu về cuộc sống của những cộng đồng người Chăm khác.

Giữa vùng biên giới quạnh hiu của ngày cuối năm, từ ngã tư Quốc Thái, chúng tôi rẽ vào búng Bình Thiên, một hồ nước ngọt lớn nhất vùng Nam bộ, nơi có hàng ngàn người Chăm sinh sống rải rác quanh hồ trong những ngôi nhà gỗ nửa chìm, nửa nổi độc đáo, bên cạnh những thánh đường uy nghi cao vút, in bóng xuống làn nước trong xanh suốt mấy trăm năm.

Những người ăn bốc
Dưới những tán cây điên điền lấp lánh hoa màu vàng mọc lan man khắp mé nước, chúng tôi bắt đầu hành trình đi trên những con đường đất nhỏ, tiến vào sâu những xóm người Chăm sinh sống dọc hai bên bờ búng. Theo ông Mohamed, 77 tuổi, một người Chăm sinh sống ở gần thánh đường Nhơn Hội, ngay sát bờ búng Bình Thiên thì đây chính là hồ nước của trời. Thấy chúng tôi còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì, ông Mohamed vừa nhìn lên phía những thánh đường cao vòi vọi ngạo nghễ in bóng xuống lòng hồ mênh mông, tiếp lời luôn: “Sở dĩ đây gọi là hồ Nước Trời vì nó được trời khai sinh ra, nước không bao giờ cạn, trong xanh đầy ắp quanh năm suốt tháng. Tương truyền cách đây khoảng 300 năm, chính là nơi đóng quân của một viên tướng tài nhà Tây Sơn trong cuộc chiến dai dẳng với Nguyễn Ánh và quân Xiêm (Thái Lan). Tuy nhiên, khi ấy nơi đây hoang vắng, khô cằn không một giọt nước nên hàng ngàn quân sĩ vô cùng lo lắng, bất an. Sau đó, vị tướng này bèn lấy gươm cắm xuống đất, cầu xin trời đất hãy ban nước xuống để quân sĩ có thêm nhuệ khí, chiến đấu với kẻ thù, bảo vệ bờ cõi. Kỳ lạ thay, từ nơi thanh gươm ấy cắm xuống, một dòng nước ngọt chảy ra, rồi dần thành một cái búng khổng lồ như bây giờ”.


Bữa ăn của người Chăm với tất cả đồ ăn đều dùng tay bốc

Trong quá trình tìm hiểu cuộc sống của người Chăm vùng búng Bình Thiên rộng lớn này, chúng tôi được ông Mohamed tận tình chèo thuyền, đưa tới nhiều gia đình người Chăm theo đạo Hồi Islam trong vùng. Theo quan sát của chúng tôi, người Chăm ở vùng biên giới này sinh sống khá hòa thuận với những cộng đồng dân tộc Kinh trong vùng. Họ vui vẻ, cởi mở và rất thân thiện. Theo tìm hiểu của chúng tôi, người Chăm vùng biên giới không bao giờ dính vào các tệ nạn xã hội mà nhiều thanh niên bên ngoài mắc phải dù đời sống của họ còn khá khó khăn. Ở đây, không có người sang Campuchia đá gà, đánh bạc. Thanh niên Chăm cũng không tham gia vận chuyển hàng lậu thuê cho các trùm buôn lậu dù được trả công hậu hĩnh.

Người Chăm ở đây ăn bốc. Và, dường như đó là một nghi thức bắt buộc. Theo đó, từ khi còn là những cô cậu bé, những đứa trẻ người Chăm đã học cách ăn bốc. Họ quan niệm, ăn bốc là tiện lợi, thoải mái nhất dù thức ăn… nóng hay nguội. Hơn nữa, khi ăn bắt buộc phải dùng tay phải vì tay trái là cánh tay có thể làm những việc sai trái nên không thể bốc thức ăn, thứ được cho là cao quý, của thánh Alla ban cho con người nhằm duy trì sự sống. Ngoài ra, khi ăn, người Chăm chỉ dùng 3 ngón tay là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Riêng những đồ ăn như nước, canh, lẩu… thì họ dùng muỗng để xúc chứ tuyệt đối không dùng đũa hay thìa, dĩa.

An táng người chết dưới đáy hồ sâu
Nếu ai đã từng đọc chuyện ngắn “Mùa len trâu” của nhà văn Sơn Nam và xem bộ phim cùng tên của một đạo diễn Việt kiều khá trẻ tuổi với bối cảnh phim là những cánh đồng vùng An Giang, Đồng Tháp Mười mùa nước nổi hẳn nhiên sẽ chú ý đến nhân vật Kim, vai nam chính của bộ phim. Tuy nhiên, trong phim còn có một cảnh hết sức độc đáo, đó là chuyện khi thấy cha  mình chết giữa mênh mông mùa nước nổi, Kim đã gạt nước mắt, buộc xác cha vào một cụm đá lớn rồi thả ông xuống giữa lòng sông, giữa mênh mang những con nước tràn bờ của miệt Nam bộ lúc đó. Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, chi tiết trong chuyện ngắn và hình ảnh trong bộ phim nổi tiếng “Mùa len trâu” ấy lại lấy những chi tiết rất thực về đời sống của đồng bào dân tộc mùa nước nổi, khi mà quanh nơi mình sống chỉ có nước và nước, không có khu đất nào để chôn cất người thân nếu họ chẳng may chết đúng vào thời gian này.

Đem điều này hỏi ông Mohamed thì ông trầm buồn, nhìn ra mặt hồ mênh mang nước bảo: “Đúng là cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi giáo ở vùng An Giang chúng tôi trước kia từng có tục lệ chôn cất người chết xuống nước theo kiểu thủy táng bởi trong quan niệm của đạo Hồi, sau khi chết, được gửi thân về với dòng nước mát, chìm sâu vào lòng nước chính là cái chết êm đềm, thi thể người chết sẽ được thanh thản, tiêu tan vào dòng nước thánh anh linh”. Theo đó, do đặc điểm của vùng An Phú này là khu vực hạ lưu của dòng sông mẹ Mê-Kông rộng lớn nên cứ đến mùa nước nổi hàng năm (từ tháng 8 đến cuối tháng 12 – PV) là cả một vùng bán kính hàng trăm cây số chìm trong biển nước mênh mông. Theo những số liệu của cơ quan Khí tượng thủy văn Nam bộ thì mực nước lũ hàng năm ở vùng An Phú vào khoảng 1,5m. Cá biệt, có những lúc cao điểm lũ về, nhiều nơi mực nước lên cao đến 3m và có khi cả tháng mới rút. Chính vì thực tế như vậy nên chẳng may có ai chết đúng vào dịp lũ lên cao thì họ sẽ mai táng người quá cố theo dạng thủy táng xuống lòng sông, lòng bùng hay những cánh đồng mênh mông nước nổi.


Một góc búng Bình Thiên, nơi có nhiều người Chăm Hồi giáo
từng được thủy táng tại đây

Trong hoài niệm về những ký ức xưa từ thời trai trẻ của mình, ông lão người Chăm luôn đội chiếc mũ vải màu trắng trên đầu khe khẽ thở dài bảo: “Lúc tôi còn nhỏ, chừng mười mấy tuổi gì đó, có chú Haji ở xóm bên chẳng may bị đắm thuyền, chết đuối khi đang đánh cá bên sôn Bình Di. Theo quan niệm của cộng đồng Hồi giáo chúng tôi, nếu người xấu số chết trên ghe thuyền, gần nước hay ở những nơi mênh mông nước không có đất chôn cất thì sẽ được thủy táng theo nghi thức của người Hồi giáo. Thế nên, ông Cả làng Chăm và người thân đã làm nghi thức tắm cho chú Haji 3 lần. Lần đầu là tắm bằng xà bông bình thường, lần 2 là tắm bằng nước sạch và lần cuối cùng là tắm bằng nước thơm, hoặc tinh dầu thơm. Sau nghi lễ tắm, thi thể của chú Haji được quấn trong 3 lớp vải màu trắng một cách cẩn thận trước khi bỏ vào một chiếc quan tài. Bên trong quan tài, cạnh thi thể người xấu số là những vật nặng đủ để giữ xác người đã khuất chìm dưới lòng nước như sắt, đá…

Sau khi khâm liệm theo đúng nghi thức và đọc kinh Thánh Koran xong xuôi, mọi người mới bắt đầu đem chú Haji đi chôn giữa lòng búng Bình Thiên này. Bình thường, ở lòng búng chỉ sâu khoảng 4 – 6m nhưng vào mùa nước nổi, búng có thể sâu gần chục mét nên phải dùng một chiếc ghe lớn đưa quan tài tới giữa lòng búng rồi thả xuống”. Cũng theo ông Mohamed, gần 80 năm gắn bó với búng Bình Thiên, ông đã chứng kiến nhiều cư dân khi qua đời vào mùa nước nổi cũng được mai táng theo nghi thức thủy táng ở chính lòng búng này.

Cụ Chau Mach năm nay đã 81 tuổi. Trò chuyện với chúng tôi về phương thức mai táng người quá cố này, cụ cho biết, hiện tại, trong cộng đồng người Chăm ở đây không còn tục lệ thủy táng nữa. Bây giờ phương tiện đi lại rất thuận lợn, nếu có ai đó chẳng may chết đi trong đúng mùa nước nổi thì người thân có thể khâm liệm rồi dùng ghe, xuồng máy đưa thi thể người thân đến những vùng đất cao để chôn cất. Thêm nữa, do lũ ở thượng nguồn sông Mê–Kông hiện nay cũng thấp hơn những năm trước, nước không tràn bờ, ngập mênh mông như xưa. Thêm vào đó, chính quyền địa phương ở các xã có các làng Chăm sinh sống cũng thường xuyên quan tâm, giải thích và khuyên cộng đồng họ không nên thủy táng người thân để tránh ảnh hưởng đến môi trường nước của chính đồng bào.

Trong những ngày lang thang ở các làng Chăm vùng thượng nguồn sông Hậu, ngồi dưới bóng những tòa thánh đường rộng lớn, nguy nga với lối kiến trúc rất độc đáo mang hình của tỏi và trò chuyện cùng những cụ già người Chăm vô cùng thân thiện, chúng tôi rất thích thú khi biết thêm nhiều câu chuyện tưởng như hoang đường nhưng lại tồn tại nhiều năm ở mảnh đất này. Tuy nhiên, tôi biết chắc chắn rằng, đó không phải là tất cả những gì bí ẩn nằm sâu tron những cộng đồng làng Chăm yên bình này bởi hơn 300 năm tồn tại người Chăm nơi đây vẫn còn vô vàn những điều kỳ lạ chưa ai có thể khám phá.

(sangkhoaivn.com) Từ ngày người dân xã Trực Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tận mắt nhìn thấy bộ hài cốt của cụ Đỗ Tựu, nhà thờ Lác Môn (nằm trên địa bàn xã Trực Hùng) ngày nào cũng tấp nập người từ khắp nơi kéo đến.

Gần hai trăm năm dưới lòng đất, hài cốt vẫn chảy máu?
Khi tôi hỏi thăm đến nhà thờ Lác Môn, những người dân ở tận huyện bên kia sông (Nam Trực) đã sốt sắng: “Đến xin ơn “thánh Tựu” đúng không?”. Mấy cụ bà móm mém: “Vào nhanh đi con, tranh thủ buổi trưa vào mà xin thánh, kẻo đến chiều lại không có chỗ mà chen đâu”.

Tôi chưa kịp có phản ứng gì, các bà đã thay nhau kể cho tôi nghe về “thánh Tựu”. Rằng cụ Đỗ Tựu là người sống từ thời vua Tự Đức, “hồi đấy cấm đạo ghê lắm, nhà “thánh Tựu” bị bắt cả hai anh em, người em sợ quá bảo là sẽ bỏ đạo nên được thả về, còn người anh thì nhất quyết không nên bị chém đầu”.


Di cốt của cụ Đỗ Tựu khi mới được đào lên

Tám người bị chém theo sắc lệnh cấm đạo vua Tự Đức ra năm 1848 nhưng chỉ có sáu người được chôn ở gần chợ của xã. Đến năm 1958, di cốt của các cụ được chuyển vào trong khuôn viên nhà thờ, cùng chôn ở mộ Đài (mộ chôn tập trung) nhưng khi đó không ai mở nắp tiểu sành ra nên không rõ bên trong thế nào. Chỉ đến tháng 7 năm 2009, giáo sứ Lác Môn mở rộng khoảng sân bao quanh nhà thờ nên phải dời mộ phần đi nơi khác. Khi mộ phần của năm giáo dân bị bêu đầu năm xưa được đào lên thì những chiếc tiểu chỉ còn lại dúm đất và mảnh đồng nhỏ ghi tên tuổi của người nằm trong đó. Đến khi linh mục mở nắp tiểu thứ sáu thì những người đứng xung quanh tá hỏa, mặt cắt không còn một giọt máu.

Ông Đoàn Văn Bân 74 tuổi, là người có mặt lúc cha sứ mở nắp tiểu, kể: “Cha vừa mở nắp tiểu ra, lạy Chúa tôi bao nhiêu là máu, máu cả ở dưới đáy tiểu, cả ở những lóng xương rỉ ra. Trong tiểu không có đầu lâu vì ngài đã bị vua Nguyễn bêu đầu rồi mà”. Ông Nguyễn Văn Huấn nhanh nhẩu chen vào: “Hôm ấy tôi cũng tham gia vào việc đào đất di dời mộ, lúc thấy nước đỏ chảy ra, lại có mùi tanh như máu tươi, tôi hãi quá ngất lịm đi, không còn biết trời đất gì nữa. Mấy chục năm bốc mộ thuê mà chưa bao giờ tôi sợ đến mức ngất đi như thế cả”.

Việc máu từ xương chảy ra tiểu sành nhanh chóng lan ra khắp xã, người từ khắp các ngõ rầm rập chạy đến, vừa chạy vừa kêu: “Cụ Đỗ Tựu hiển thánh rồi”. Giáo dân kéo đến đông nghịt sân nhà thờ, vòng trong vòng ngoài xung quanh ngôi mộ. “Mọi người chen đến đông lắm, ai cũng đòi quệt máu của ngài nhưng cha sứ không cho. Chỉ đến khi cha hứa là sẽ lấy bông thấm máu rồi chia cho mọi người thì mọi người mới chịu, chứ chen lấn, xô đẩy kinh lắm” - ông Bân nhớ lại - “Mà ngài hiển thánh thật đấy, không thì tại sao gần hai trăm năm mà phần xương của ngài vẫn còn nguyên xi, những ông khác chả còn cái gì cả?”.


Ô tô nối đuôi nhau tới xem bộ hài cốt, náo động cả một vùng quê.

Số bông thấm máu được chia nhỏ tẹo như đầu tăm bông mà vẫn không đủ để chia cho mọi người, những người chậm chân đến sau cứ ời ời kêu tiếc. Không có được bông tăm máu của cụ Tựu, nhiều người đến trước tủ kính đựng di cốt của cụ cứ thế lấy khăn, lấy vải di di trên mặt kính để “xin ngài ban phước, cất hết bệnh tật của con đi”.

Xin nước trong huyệt mộ về chữa bệnh

Việc di cốt của cụ Đỗ Tựu chảy máu, hiển thánh cứu giúp giáo dân lan ra khắp mọi nơi, ngày nào cũng có đoàn người và xe ùn ùn kéo đến. Từ miền Trung, miền Nam cũng có nhiều người khăn gói quả mướp, cơm nắm muối vừng ra Bắc, đến Lác Môn xin ơn. Rồi chẳng biết từ bao giờ, người Lác Môn có câu: “Thứ nhất là thánh La Vang; sứ nhì sứ Lác; thứ ba họ Bùi” (thánh địa La Vang thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Lác Môn và Bùi Chu thuộc Nam Định) để nói về sự linh thiêng của “thánh Tựu” nơi họ.

Hai năm làm công việc trông coi nhà thờ và nơi đặt di cốt “thánh Tựu”, ông Bân kể: “Mọi người đến xin ơn ngài. Ô tô to ô tô bé đỗ chật kín đường làng. Người ta mang can to can nhỏ đến để lấy nước ở trong huyệt mộ cũ. Múc đến cạn trơ đáy, nước đục ngầu toàn bùn là bùn. Có bà ở Ninh Bình múc can nước lên bảo: “Thối quá ông ạ, vừa đục vừa thối thế này thì uống làm sao được!”. Thế mà bà ấy mang về đến nhà rồi thì lạy Chúa tôi, nước lại trong vắt và không có mùi gì. Một bà khác ở Hải Phòng, mang hai can nước về nhà rồi nhưng khi bà ấy bảo với chồng rằng lấy nước dưới huyệt mộ của ngài thì ông này bắt mang ra ao đổ. Nhưng lạy Chúa tôi, nước đổ đến đâu, nước ao loang đỏ đến đấy… Tên tuổi của những người được ngài ban ơn đều có cả đấy, họ được ngài chữa khỏi nên quay lại để tạ ơn”.

Hàng trăm tấm bảng tạ ơn bằng gạch men trắng in chữ xanh được gắn kín trên bức tường trong nhà thờ cụ Tựu. Người tạ ơn vì khỏi bệnh điên sau 18 năm. Người tạ ơn vì chồng hết cờ bạc… Lại còn có người tạ ơn vì khỏi bệnh… si-đa giai đoạn cuối??? Tôi hỏi: “Vậy có nhiều người trong làng được “ngài” ban cho khỏi bệnh hay không?” Ông Bân bảo: “Tuyền người phương xa được ngài ban ơn thôi chứ ở làng thì ít lắm. Nhưng cũng có đấy, cô cứ vào trong làng mà hỏi”.


Nhiều người chờ đợi bên ngoài chờ tới lượt được vào tận mắt
chứng kiến hài cốt của ông Đỗ Tựu. Ảnh internet.

Người ta chỉ cho tôi vào nhà Phan Thị Uẩn, nhà gần ở bến phà Ninh Cường. Chỉ có mình bà ở nhà bán hàng tạp hóa nho nhỏ. Chồng bà đi làm, con cháu thì toàn ở xa. Bà kể, trước đây một nửa trong tổng số 12 đứa cháu nội ngoại của bà luôn ốm đau quặt quẹo, có nuôi mà không có lớn. Bà sang nhà thờ Lác Môn, quỳ trước bộ xương của “thánh Tựu” cầu xin cho các cháu khỏe mạnh. “Từ bấy, chúng nó ít ốm đau hẳn. Bản thân tôi bị dạ dày, đã bục mấy lần nhưng từ ngày xin ngài, chả thấy cái dạ dày đâu nữa”, bà Uẩn nói.

- Bà xin bằng cách nào ạ? - Tôi hỏi.

- Tôi chậm chân không lấy được bông thấm máu của ngài nên mang chai ra huyệt xin nước về uống.

- Nhưng uống nước trong huyệt mộ, nghe đã thấy ghê ghê?

- Ghê gì?! Nước trong vắt như nước mưa ấy, chả có mùi gì cả. Hàng nghìn người uống mà có ai làm sao đâu, lại còn khỏi bệnh nữa. Sống phải biết tin chứ. Tin thì sẽ được, tìm thì sẽ thấy cô ạ.

Đúng là sống thì cần phải có niềm tin. Nhưng tin mà phản khoa học đến mức chen nhau lấy máu từ bộ xương gần hai trăm năm tuổi, đến mức lấy nước trong huyệt mộ về uống như ông Bân, bà Uẩn và hàng ngàn người mê tín khác kéo đến nhà thờ Lác Môn thì đúng là mù quáng!.
Click để bắt đầu chia sẻ những bức ảnh vui!

LIKE BOX